Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2013

Tàm Quý - HT. Thích Trí Quảng


     Tàm quý là một trong những hạnh tu của Đức Phật. Theo Thế Thân Bồ tát, tàm quý là một trong 11 thiện tâm sở. Trong Duy Thức học, Ngài Thế Thân chia tâm của con người thành 100 pháp và Ngài viết bộ Đại thừa Bách Pháp Minh luận để lý giải về các dạng thức của tâm và sự linh hoạt của nó. Ngài chia chẻ tâm chúng ta thành 100 phần và con số 100 tính theo cấp số nhân thành vô số, nhưng gom lại thì có 100 để phân biệt trong tâm, cái nào tốt thì phát triển, cái xấu thì đoạn trừ. Đức Phật cũng đã thể nghiệm điều này một cách trọn vẹn, nên Ngài trở thành Đấng Đạo sư hoàn thiện.

     Tàm quý là thiện tâm sở, vô tàm quý là ác tâm sở. Trong tâm của con người có thiện ác lẫn lộn. Người biết tàm quý gọi là người thiện, người không biết tàm quý là người ác. Tàm quý hiểu thông thường là xấu hổ, hổ thẹn. Người biết hổ thẹn với lương tâm mình khi làm điều sai trai là người có hạnh tàm quý. Còn làm sai trái, nói sai trái, nghĩ sai trái mà không xấu hổ là người không biết xấu hổ.

     Tàm quý hay vô tàm quý là thiện ác từ trong tâm chúng ta. Đức Phật dạy rằng tâm rất quan trọng; theo kinh Hoa Nghiêm, tâm sinh ra vạn pháp, tức sinh ra muôn pháp lành hay muôn pháp ác. Vì vậy, từ tâm không biết xấu hổ, người ta dễ dàng buông ra lời nói xấu ác và hành động ngông cuồng, việc làm sai quấy, mà họ vẫn xem thường; nhưng họ chỉ lừa dối được một số người, chứ không thể lừa dối tất cả mọi người, lừa dối được một lúc, chứ không thể lừa dối được trọn đời. Đức Phật nói ác ma khác với Ngài ở điểm họ chuyên môn lừa dối và không bao giờ biết xấu hổ với hành động sai quấy. Còn Phật thì ngược lại, Ngài luôn sống với hạnh tàm quý, nghĩa là Ngài luôn gạn lọc, cân nhắc, sửa đổi từ ý nghĩ, việc làm, cho đến lời nói.

     Khi biết tàm quý, nếu bị người xem thường, chúng ta sẽ nghĩ lại xem mình đã làm gì, nói gì khiến cho người ta xem thường mình. Ví dụ trong lớp học có người không biết tàm quý, tức họ không biết nhìn xem thái độ của người xung quanh đối với mình như thế nào để tự sửa mình, mà cứ nghĩ mình tốt, mình giỏi. Người như vậy vào đạo tràng tìm chỗ tốt mà đứng, không biết nhìn trước nhìn sau coi mình là ai. Nếu lỡ đứng trước người được kính trọng mà không biết tàm quý, lại còn hãnh diện được đứng trước. Nhưng người biết tàm quý thì sợ tổn phúc vì đứng trước người tuổi tác lớn, đạo đức hơn mình. Không biết tàm quý thì người xung quanh liếc mắt với mình, ý nói mình phải lùi phía sau để nhường cho người lớn tuổi, mà mình cũng chưa xấu hổ, không chịu nhường, đến khi người giữ trật tự đến kéo mình lại phía sau, mình cũng chưa chấp nhận, còn đứng lại cãi.

     Người tu biết xấu hổ, vào đạo tràng, biết mình đứng chỗ nào. Đứng đúng chỗ, nói đúng chỗ, ngồi đúng chỗ, mọi người chấp nhận dễ, không có vấn đề gì xảy ra, thì đạo tràng được thanh tịnh. Tâm chúng ta phải nhận biết như vậy. Lỡ đứng trước người lớn tuổi, nếu có tâm tàm quý, phải quay lại xin lỗi họ; đó là biết tàm quý đối với mọi người, đối với xã hội. Tuy nhiên, cái biết tàm quý này cũng chưa đủ, còn phải biết tàm quý với lương tâm mình, vì sự phán xét của xã hội có lúc đúng lúc sai; trong khi cái biết của lương tâm luôn luôn đúng. Lương tâm là tâm lương thiện, là tâm tốt lành; nhưng vì người chưa phát hiện được tâm thiện này, cho nên họ phạm nhiều sai trái. Vì vậy, hạnh xấu hổ với lương tâm mới quan trọng. Từ thuở nhỏ tôi đã cố gắng thực hiện hạnh tàm quý đối với lương tâm mình. Thật vậy, khi mặc áo tu, gặp người lớn tuổi hay bằng tuổi tôi mà họ chắp tay xá chào tôi và nói thưa Thầy, thì lúc đó tòa án lương tâm tự xét lại coi mình có phải là Thầy người ta hay không, mà Thầy ở chỗ nào. Quán sát như vậy, tự thấy xấu hổ với lòng mình, vì thấy không xứng đáng là Thầy người ta mà họ lại cung kính mình là Thầy. Trong các buổi sinh hoạt xã hội, với người gọi tôi bằng Thầy, tôi thường suy nghĩ điều này, hoặc gặp bạn đồng học gọi tôi là anh, tôi thấy bình thường, vì cùng học một lớp thì làm sao làm Thầy họ được. Có những người bạn không biết xấu hổ, lúc nào cũng nghĩ họ là Thầy của thiên hạ; đối với người có tuổi tác đáng là anh, là cha mẹ, là ông bà, mà họ cũng dám xưng Thầy. Tôi lỡ xưng Thầy với ai thì thấy xấu hổ.

     Vì vậy, khi người đối xử không tốt với ta, xem thường ta thì quý vị nghĩ thế nào. Theo tôi, khi đó họ thấy con người thật của mình không phải là Thầy, nhưng mình cứ lầm tưởng mình là Thầy, nghĩa là mình không dạy được điều gì cho họ, không làm gương tốt cho họ, mà đòi hỏi họ cung kính mình, là sai lầm lớn. Biết như vậy, mình phải tự xấu hổ với mình. Hoặc ta lớn tuổi, tu lâu, hay vào đạo tràng lâu, mà người mới vào đạo tràng, người nhỏ tuổi hơn cũng không kính trọng mình được. Nếu ta tự ái, nghĩ mình lớn tuổi, tu lâu là chắc chắn ta rơi vô ngã mạn, tăng thượng mạn thuộc phiền não; cho nên ta đi theo con đường này sẽ bị phiền não dẫn vào lưới ác ma và trở thành ác ma. Nếu gặp tình huống như vậy, chúng ta phải tự giựt mình, suy nghĩ tại sao ta lu lâu, tuổi lớn hơn, nhưng không bằng người mới tu, không bằng người nhỏ tuổi hơn mình. Khi nhận ra rằng tuy tuổi lớn, nhưng hạnh ta chưa lớn, ý ta chưa lớn, đức ta còn nhỏ, cho nên ta cảm thấy tự xấu hổ và nỗ lực vươn lên. Biết tàm quý và biết khắc phục, sửa đổi lời nói, hành động, việc làm cho tốt thì có thể thăng tiến trên con đường đạo hạnh. Và từ đó, chúng ta mới phát hiện điều mới theo tinh thần Đại thừa không căn cứ trên tuổi tác, không căn cứ trên thời gian tu trước hay sau, nhưng căn cứ trên chỗ ngộ.

     Người ngộ tánh là nhận ra tánh sáng suốt của mình, tu hành hơn nhau ở điểm này. Đối với người có tuổi đời tuổi đạo nhỏ hơn ta, tuy họ mới tu, nhưngcó đạo đức lớn hơn ta, có trí tuệ thẩm sâu hơn ta và họ ngộ tánh, ta nên sanh tâm kính trọng họ. Theo tinh thần Pháp Hoa, trên dòng sinh mệnh tương tục, người ngộ tánh hay đã có quá trình tu hành nhiều đời, cho nên đời này còn nhỏ tuổi, mà họ rất thông minh, đạo đức cao và nhận thức sáng suốt. Các Lạt ma Tây Tạng tu Kim Cang thừa thường căn cứ vào chỗ ngộ tánh sáng suốt và có đạo hạnh cao, vượt hơn người, còn tuổi lớn nhỏ không quan trọng. Khi tôi sang dự diễn đàn Phật giáo ở Trung Quốc, gặp vị Lạt ma Tây Tạng được nhân dân Tây Tạng kính trọng dù tuổi đời mới ngoài 20 và các vị trưởng lão tôn túc 60, 70 tuổi cũng kính trọng vị Lạt ma rất trẻ này; đây là việc vô cùng quan trọng trên bước đường tu. Tôi hỏi tại sao các vị lại kính trọng vị nhỏ tuổi này. Họ trả lời rằng tu Kim Cang thừa không căn cứ trên tuổi lớn nhỏ, nhưng quan trọng ở trí tuệ, nghĩa là làm Thầy trí tuệ của chúng ta, có khả năng khai ngộ chúng ta, có khả năng truyền đạt trí tuệ của Phật cho chúng ta.

     Kim Cang thừa thuộc Mật tông nhắm vô tam mật gia trì là chính, nghĩa là thân khẩu ý của chúng ta đều là Mật, không phải chỉ bắt ấn khuyết theo hình thức mới là Mật. Ấn khuyết thực chất là dụng của Tỳ Lô Giá Na, dụng của trí tuệ. Nếu bắt ấn mà không có dụng thì chỉ là hình thức mà thôi. Bắt ấn của hành giả phải phát xuất từ Pháp thân Tỳ Lô Giá Na, hay từ tánh sáng suốt bên trong và tạo thành ấn khuyết bên ngoài, gọi là thể và dụng tương ưng. Dụng có từ thể, thể là nguồn gốc phát ra dụng. Ví như máy phát điện nổ mới có dòng điện. Vì vậy, tu Kim Cang thật khác với tu hình thức.

     Đầu tiên phải ngộ Tỳ Lô tánh, tức bản tánh sáng suốt của con người. Ai ngộ tánh này là Thầy, là Phật. Tuy Phật, chúng sinh và tánh là một, nhưng khác nhau ở ngộ hay không ngộ. Giờ trước chưa ngộ tánh Tỳ Lô là chúng sinh, như Phật Thích Ca khi chưa ngộ tánh là Sa môn Cù Đàm, đến khi Ngài ngộ tánh Tỳ Lô Giá Na thì Ngài hiện thân là Thích Ca Như Lai. Lúc Phật chưa ngộ, năm anh em Kiều Trần Như không kính trọng Ngài như bậc Thầy của họ; nhưng Ngài thành Phật, tức ngộ được chơn tánh thì năm người này trông thấy Ngài, tự động họ kính lễ. Như vậy, "Ngộ” nằm trong sự chuyển hóa, chuyển vật của Như Lai, là dụng của Tỳ Lô tánh.

     Ấn khuyết phát xuất từ tánh bên trong. Hãy hình dung những gì hiện hữu chung quanh tánh sáng suốt này, mà kinh thường gọi là Mạn Đà La, trong đó Pháp thân là Trí, hiện ra Báo thân viên mãn, nghĩa là từ Tỳ Lô tánh hiện ra Tỳ Lô thân là Báo thân viên mãn được kết hợp bằng phước đức trí tuệ vẹn toàn. Nhưng do đâu mà có phước đức và trí tuệ viên mãn. Phước đức trí tuệ này do quá trình thể nghiệm hạnh Bồ tát trải qua nhiều đời; nhờ vậy mà tạo thành quyến thuộc tài giỏi. Nói cách khác, ta từng cưu mang, giúp đỡ, dạy dỗ bao thế hệ thì có bấy nhiêu người tài đức hiện hữu chung quanh mình, mà chúng ta ngộ được Tỳ Lô tánh mới thấy được người tài đức ở xung quanh mình.

     Và ứng Tỳ Lô dụng là ấn khuyết, nghĩa là ta chỉ dạy cho mọi người làm theo ý mình. Còn người tu bắt chước, cũng bắt ấn chỉ bốn phương tám hướng, nhưng chung quanh họ không có người tài đức hỗ trợ thì cũng không có tác dụng gì. Ví dụ Hòa thượng Trí Tịnh ở trong Thiền thất, không thuyết pháp giảng kinh, nhưng Ngài chỉ định mỗi Thầy làm một việc và tất cả các Hòa thượng, Thượng tọa nhận giáo chỉ của Ngài mà làm thì mọi việc đều thành công.

     Ngộ Tỳ Lô tánh, hiện Tỳ Lô thân, ứng Tỳ Lô dụng, tạo thành trí giác và uy đức lãnh đạo được đại chúng; cho nên không căn cứ trên tuổi tác và thời gian tu lâu mau.

     Trở lại hạnh tàm quý, biết tự sửa đổi sai lầm của mình cho đến khi người khác chấp nhận mình, thì từng bước thăng hoa được. Riêng tôi, mỗi lần gặp việc không giải quyết được, tự thấy xấu hổ rằng mình chưa đủ tài đức, cần phải nỗ lực tiến tu, ngày nay chưa được thì ngày mai phải được. Nỗ lực tu hành là tạo thành người đức hạnh và có cái nhìn chính xác, thì các Thầy không chống đối nữa, mà phải chấp nhận tôi. Trái lại, không biết xấu hổ, mà muốn áp đặt, buộc người nghe theo mình, chắc chắn không thể làm đạo lâu dài.

     Hạnh tàm quý là thiện tâm sở rất quan trọng; vì không có hạnh này, người ta dễ tạo tội lỗi và đi vào thế giới ác ma. Cảm thấy xấu hổ khi người xem thường mình, cảm thấy xấu hổ khi được người kính trọng, nhưng thực sự mình không đáng được kính trọng. Biết xấu hổ thì tiến tu được. Dẹp được tâm vô tàm vô quý, trí tuệ chúng ta sáng lần, thấy được việc chính xác hơn; với tâm trung thực, chúng ta mới nhận ra sai lầm của mình trước kia. Trên bước đường hành đạo, có lúc tôi gặp những điều không bằng lòng, chán nản cũng muốn bỏ cuộc. Tâm trạng này tôi đã có 40 năm trước, nhưng nhờ chán nản này, tôi mới sang Nhật tu học và khi bình tĩnh lại, học được, nhìn lại thấy thời đó mình còn quá nông nổi. May nhờ Phật cứu, tôi tìm đường đi tới còn được; trong khi những người bất mãn bỏ cuộc thì cuộc đời trở thành mai một.

     Từ đó về sau, tôi luôn cân nhắc, xem người đối xử với mình mà tự thấy xấu hổ và tự sửa đổi. Tự sửa đổi bằng cách nào? Khi bị người chê, mà ta nói xấu lại, thì phải thấy mình có lỗi và tự sửa đổi; làm như vậy; từ từ bạn sẽ tốt lại với mình. Tôi thấy hạnh xấu hổ giúp mình tiến bộ. Còn được người tin tưởng, đề cao, nếu ta hãnh diện, sung sướng, sẽ rơi vào ngã mạn, tăng thượng mạn là phiền não. Tổ Phi Lai dù đã ngộ tánh, biết rất nhiều việc, nhưng người ta kính trọng Ngài là người hiểu biết rộng, Ngài cũng từ chối, nói "Không dám”. Người ta đề cao, Ngài vẫn khiêm tốn. Những điều Ngài tiên đoán như thần, nhưng Ngài nói rằng đó là nhờ Hộ pháp mách bảo trong giấc mơ, không dám tự nhận mình biết. Vì vậy, hạnh khiêm tốn giúp cho hạnh tàm quý dễ dàng thực hiện tốt hơn, làm cho chúng ta dễ thương hơn, dễ được xã hội chấp nhận và có thể tiến tu dài lâu.

     Trong 11 thiện tâm sở, khởi đầu là Tín, tức là niềm tin rất quan trọng; nhưng chỉ có niềm tin thì cũng nguy hiểm, mà không có niềm tin thì cũng không tu được. Riêng tôi, nhờ niềm tin mãnh liệt với Bồ tát Quan Âm, đến đâu, làm gì, tôi cũng cảm giác Quan Âm hướng tôi đi trên lộ trình đúng đắn, giúp tôi làm được.

     Chúng ta cũng thấy từ niềm tin mà hàng vạn Phật tử đã đến chiêm bái tượng Phật ngọc. Chúng ta chưa vượt ngũ ấm thân, nên không thể thấy siêu hình, không thấy các Bồ tát vô hình, không thấy bề trái của cuộc đời, không thấy bề trong của sự vật; nhưng vị Lạt Ma Tây Tạng sống với bản tâm thanh tịnh, nên nhìn khối đá mà thấy Phật hiện hữu bên trong. Người bình thường thấy đá là đá, thấy gỗ là gỗ. Còn người phi thường thấy trong đá có Phật, trong gỗ có Phật; nhưng không phải đá nào, gỗ nào cũng tạc tượng Phật được, có đá tạc tượng Phật mà không ai thờ cúng. Trong khối đá, hay trong khối gỗ có Phật, gọi là khối đá thiêng, cây gỗ thiêng để tạc tượng. Chúng ta nhớ khi Phật giáo truyền vào Việt Nam, có năm ngôi chùa là Pháp Vân, Pháp Vũ, v.v...…Nhà sư Khuông Đà La đã chọn được gỗ thiêng để chạm các pho tượng Phật ở những chùa này; không phải cả rừng đều là gỗ thiêng. Dùng gỗ thiêng chạm tượng Phật an trí chỗ nào thì chỗ đó được bình an, người ta cầu nguyện được như ý. Xưa kia, các vị Thiền sư ngộ đạo thường tìm vùng đất thiêng để cất chùa, có thể tấn xuất nhân tài, gọi là địa linh nhân kiệt. Tuy thực tế thấy có nơi tầm thường, nhưng dựng chùa ở đó thì dân chúng được bình an và nhân tài xuất thân từ đây. Nhưng ngày nay, cũng đừng quá tin vào điều này, sẽ bị người xấu lợi dụng, chắc chắn họ không có mắt thiêng mà có thể chỉ được đâu là vùng đất thiêng.

     Khối ngọc do vị Lạt Ma phát hiện trong Thiền định có thể tạc tượng Phật được, thì trước tiên vị Lạt Ma phải đưa tâm mình vô khối ngọc làm cho khối đá này tỏa sáng và cũng nhờ vào lực gia trì của Lạt Ma làm cho người thợ tạc nên pho tượng Phật có sức sống. Không phải thợ nào cũng tạc được và không phải lúc nào cũng tạc tượng Phật được.

     Cũng vậy, tượng Phật chùa Ấn Quang hình thành do Hòa thượng Trí Hữutụng kinh Pháp Hoa cầu nguyện và tạo lực gia trì cho nghệ nhân tạc tượng. Đồng thời nghệ nhân vừa tạc tượng vừa lạy Phật, bộ kinh Pháp Hoa có hơn 60.000 chữ thì vị này lạy hơn 60.000 lạy là tạc xong pho tượng Phật. Còn Hòa thượng Trí Hữu thì đốt liều hương trên đầu để cúng dường Phật và khi trên đầu không còn chỗ để đốt hương, Ngài đốt hương trên cánh tay, thậm chí đốt rụng cả ngón tay mà không cảm thấy nóng. Sợ nóng và thấy nóng thì không thể đốt được vì niềm tin chưa có. Niềm tin mãnh liệt như Hòa thượng Quảng Đức thì đốt cháy cả toàn thân mà vẫn ngồi an nhiên tự tại trong lửa.

     11 thiện tâm sở gồm có Tín, Tàm, Quý, Vô tham, Vô sân, Vô si, Tinh tấn, Khinh an, Bất phóng dật, Hành xả, Bất hại, trong đó niềm tin khởi đầu. Và niềm tin trong sáng, cao quý được đặt vào tượng Phật. Ngọc đã quý và đưa thêm lòng thành của Lạt Ma Tây Tạng và nhà sư Thái Lan vào khối ngọc tạo thành sức thu hút hàng vạn người đến đảnh lễ tượng Phật này. Kinh Hoa Nghiêm nói niềm tin là mẹ sinh ra các công đức lành. Và niềm tin dẫn đi xa hơn theo chiều hướng của 11 thiện tâm sở, thì Tín phải kèm theo tâm tàm quý, tức biết xấu hổ với người và với lương tâm mình, mới thấy được con người thật của mình. Qua sự đánh giá của xã hội mà chúng ta nhận ra được con người thật của mình, xã hội đánh giá mình như thế nào thì mình là như vậy. Xã hội đánh giá mình không giỏi, thì phải phấn đấu tu học để trở thành giỏi. Còn người đánh giá mình tốt mà liền chấp nhận, thỏa mãn là đã ngã mạn; nói cách khác, là phủ lớp sơn giả lên mình rồi.

     Và có tâm tàm quý sẽ đi đến tâm vô tham, vô sân; vì biết rõ mình thì không còn ham muốn. Đối với người thế gian, ham muốn chính yếu là ham tình ái, ham danh lợi và ham ăn ngủ.
Khi đã thành tựu tâm vô tham, vô si thì càng được quý trọng bao nhiêu, chúng ta càng tinh tấn bấy nhiêu. Tinh tấn làm nhiều việc phước đức mà không biết chán nản, không mệt mỏi; cho nên tâm ta luôn được khinh an, tức nhẹ nhàng, thoải mái, thanh thản, không bị áp lực công việc. Kế đến, trang nghiêm tâm bất hại là nhớ đừng làm mất lòng người và cuối cùng là tâm hành xả, việc gì qua rồi thì mình cho nó nhẹ nhàng trôi qua.

     Nuôi dưỡng được tâm tàm quý và cả 11 thiện tâm sở như vậy, chắc chắn chúng ta thăng hoa trên con đường tu tạo phước đức trí tuệ của chính mình và mang lại an lạc hạnh phúc cho gia đình, cho xã hội.

(Bài giảng khóa tu Một ngày an lạc lần thứ 61 tại chùa Phổ Quang ngày 5-4 -2009)
Nguồn: http://www.chuahuenghiem.net/thu-vien/sach/khai-thi-2009/tam-quy/#title

Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013

Vượt Qua Trầm Cảm - HT. THÍCH TRÍ QUẢNG


Vượt qua trầm cảm
     Ngày nay, người ta thường quan tâm đến bệnh trầm cảm. Trầm cảm là gì và nguyên nhân đưa đến bệnh này để chúng ta giúp người khắc phục, vượt qua. Trầm cảm là con người có tâm hồn trầm lắng, điều này khiến người ta dễ hiểu lầm về thái độ trầm lắng của Phật và các Sa-môn. Có thể khẳng định rằng trầm cảm phát xuất từ nghiệp của con người khiến họ đi đến bệnh hoạn, cần phải khắc phục. Đức Phật và Sa-môn trầm mặc, vì sống với tinh thần và trí tuệ vô lậu phát sanh từ tâm hồn thanh tịnh.

     Mặc cảm do nghiệp mình từ bên trong phát sanh ra có hai là tự ti mặc cảm, tức là tự thấy mình không bằng ai, từ tự ti mặc cảm, họ lánh xa người để có đời sống khép kín đến mức tâm hồn bệnh hoạn là trầm cảm. Đây là một loại bệnh cần chữa trị, khác với tâm tĩnh lặng. Từ mặc cảm tự ti đưa đến trầm cảm, nên nhìn đời không đẹp và thấy khổ là một loại bệnh của thời đại.

     Hạng người học hành, hay làm ăn thất bại, sanh ra buồn khổ, xa lánh mọi người và tâm hồn lúc nào cũng u tối, khác với người trụ định trong thế giới tu hành. Người trụ định hướng về nội tâm, phát triển trí tuệ, nên mặt sáng tiêu biểu cho hào quang chứng tỏ tâm hồn đã trong sáng, nên thấy được bề mặt và bề trái của cuộc đời, đó chính là Đức Phật. Còn phần nhiều người ta không thấy bề trái và cũng không tìm hiểu bề trái để khắc phục. Còn Phật thấy bề ngoài và hiểu được bề trái là thấy nguyên nhân sâu xa tiềm ẩn nhiều đời và Ngài thí nghiệm nhiều lần thấy chính xác bề trái, gọi là chân lý bên trong, hay Tập đế và Đạo đế. Thấy bề ngoài khổ, gọi là Khổ đế, nhưng không thấy nguyên nhân sâu xa, nên nghiệp và phiền não tăng trưởng. Thí dụ thấy bề ngoài người khỏe mạnh, giàu có, địa vị hơn ta sẽ làm ta mặc cảm tự ti cho đến trầm cảm, còn thấy ta hơn người thì sanh ra mặc cảm tự tôn. Theo Phật, hai tâm này đều là nghiệp. Trái lại, dưới cái nhìn trầm mặc của Phật, thấy được con người thực của chúng ta, nghĩa là nhìn lên, chúng ta thấy mình không bằng Thánh Tăng, A-la-hán, Bồ-tát và Như Lai, nhưng nhìn xuống lục đạo tứ sanh, chúng ta còn hơn họ. Bấy giờ thấy con người thực của chúng ta ở đâu và ta là gì. Phật dạy rằng nhìn người thấy hơn mình, ta tìm xem nguyên nhân tại sao họ hơn, hay tại sao họ thua kém thì chúng ta cố khắc phục sự thua kém để đi lên cho bằng họ và khởi ý niệm thương xót, dìu dắt người kém ta để giúp họ bằng ta; đó là tâm lý của Phật giáo mà đệ tử phải áp dụng trên bước đường tu.

     Hiền thánh hơn ta sức thông minh và sự hiểu biết. Hiểu biết khác với thông minh. Ta dạy người hiểu biết được, nhưng họ không thông minh, ta không làm cho họ thông minh được. Tôi có một người bạn học giỏi là người Việt Nam làm thẩm phán đầu tiên, ông nói một câu khiến tôi suy nghĩ. Ông nói lao động hóa trí thức thì được, nhưng trí thức hóa lao động không được; vì khi đất nước ta độc lập một nửa, ông ở miền Bắc tham gia việc chống nạn mù chữ khiến ông rất vất vả. Người trí thức lao động một thời gian ngắn, họ vượt hơn người nông dân về kỹ thuật, nhưng bắt người lao động học thì khó lắm. Thuở nhỏ tôi đi học ngồi cạnh người con của bà bán bánh bò, nó chỉ ăn một nửa bánh, để cho tôi một nửa để bảo tôi học thế dùm nó!

     Đức Phật nhìn sâu xa hơn, thấy tất cả các loài đều có thể thành Phật, nhưng người thành trước, người thành sau; vì Phật thấy nguyên nhân chính là nghiệp. Vì vậy, phá được nghiệp này để vượt qua, vì sự nỗ lực được hướng dẫn có thể thay đổi là bước đường tiến hóa của con người, chúng ta thấy rõ ý này. Người đi học có bằng cấp, mình không học không có bằng cấp, tức họ hơn mình bằng cấp, nhưng chưa chắc họ thông minh hơn ta, nên điều này cũng không đáng ngại. Nếu chúng ta thông minh, nỗ lực học cũng bằng họ. Đọc truyện Lưu Bình Dương Lễ, chúng ta thấy Dương Lễ không thông minh bằng Lưu Bình. Lưu Bình chỉ có nghiệp lười, ham ăn chơi. Dương Lễ nhờ siêng năng học, nên tốt nghiệp, được làm quan. Dương Lễ không thông minh hơn, nhưng nhờ cần cù là học được. Còn thông minh thì khó, nhưng khi Lưu Bình quyết tâm học, chỉ một thời gian ngắn làm quan cao hơn Dương Lễ là nhờ có sức thông minh, biết khai thác thì trở thành người quan trọng.

     Đối với người kém thông minh, Phật cũng thấy, Phật thấy Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát cho đến chúng sanh các loài đều có Phật tánh, tức thông minh, nhưng chưa được khai thác. Đạo Phật nhắm vô thông minh, không phải khai thác văn tự, gọi là vô tự chân kinh tức muốn dạy chúng ta làm Phật; nói cách khác là phát triển sự thông minh gọi là vô lậu học. Học để phát huy huệ vô lậu, tức sức thông minh; không phải học ngữ ngôn văn tự khiến chúng ta dễ chán, lạc vô cách học này thì càng học rộng dễ thành người mặc cảm. Huệ vô lậu phát sanh để chúng ta thông minh như A-la-hán, Bích chi Phật, Như Lai, các Ngài không học ngữ ngôn văn tự, nhưng học để phát huy sức thông minh, vượt qua tất cả và trở thành hiền thánh; nhưng đầu tiên chúng ta phải vượt qua trước, mới giúp người vượt qua. Khi Phật còn là thái tử, Ngài thương tất cả mọi người, nhưng không biết làm sao cứu họ, cũng như chúng ta xác định sức người có hạn, ta muốn giúp nhưng không giúp được. Phật cũng vậy, không cứu được vì lúc đó chưa có sức thông minh để biết cách giúp. Vì vậy, Ngài tu là cố tìm ra cách để cứu chúng sanh, gọi là đi tìm đạo.

     Đạo của Phật tìm ở đâu. Ngài đi, nhưng không tìm thấy đạo. Tôi đã trải nghiệm con đường tìm đạo, lang thang từ chùa này sang chùa khác cũng không thấy được đạo. Khi Phật ngộ đạo được, Ngài mới tuyên bố không có gì không phải là đạo mới là đạo, không có người nào không phải là Phật thì chính đây là Phật, không có chỗ nào không phải chúng hội đạo tràng mới là đạo tràng. Kinh Pháp hoa diễn tả ý này là không nhứt thiết phải ở chùa, nhưng thực người ngộ đạo thì ở chỗ nào, chỗ đó là đạo tràng.

     Phật ngộ đạo ở cây bồ-đề, gọi là Bồ-Đề Đạo Tràng; nhưng Phật đến Lộc Uyển, Trúc Lâm thì nơi đó là đạo tràng. Sự hiện hữu của người ngộ đạo rất quan trọng, nếu chúng ta cứ chấp Bồ-đề là đạo tràng, nhưng đến đạo tràng này, chúng ta thấy gì? Tôi đến Bồ-Đề Đạo Tràng nhiều lần thấy rất nhiều người của các dân tộc tụ họp nơi đây, làm cho cảnh trí trở thành bát nháo và qua chuyến hành hương nửa tháng đi từ non Linh Thứu đến Lộc Uyển và Câu Thi Na, thấy những nơi này là những phế tích hoang tàn đổ nát, làm sao thấy Phật được. Tuy bề ngoài thấy vậy, nhưng khi tôi lắng lòng xuống, có đời sống trầm mặc mới nhìn thấy thế giới của tâm hiện ra thì cảnh giới này trở thành muôn màu muôn vẻ. Lần đầu tôi cảm giác tâm tôi đi ngược về quá khứ là nhìn phế tích thấy được mấy ngàn năm trước khi Phật còn là thái tử đến nhập định ở gốc cây bồ-đề, hay nói cách khác, trở lại đời sống nội tâm thì từ đời sống nội tâm này hiện lên Phật quá khứ, thấy cảnh đổ nát hoang tàn ngày nay chúng ta có từ đâu và từng bước thấy nước Ấn Độ ở thời kỳ Phật và sau thời kỳ Phật, mới thấy Hồi giáo tàn sát Phật giáo và thấy phản ứng của Tăng Ni, Phật tử đối với Hồi giáo, nghĩa là thấy cảnh này diễn ra trong nội tâm, tôi hình dung ra Phật giáo như thế, nên thấy hai trăm lính Hồi giáo mà tiêu diệt được cả hai vạn Tăng ở Nalanda. Từ đó, tôi so sánh ví như hai trăm con chó sói với hai vạn con cừu. Ta tu mà biến thành con cừu là nguy hiểm, là Phật giáo quá khứ đã vậy và từ đó, tôi rọi ngược về Phật giáo Việt Nam thời Lý Trần lại thấy khác, thấy chúng ta có hai trăm con voi, sư tử. Phật giáo ví như là voi, là sư tử, không phải là cừu; đó chính là thế giới vô hình dưới mắt Đại thừa. Vì vậy, tôi có ý niệm làm sao biến cừu thành voi mới là đạo Phật. Phật giáo ví như voi có khả năng vác nặng đi ngược dốc mà không ai có sức ngăn cản được. Bồ-tát Văn Thù và Phổ Hiền tiêu biểu cho sức mạnh của voi, sư tử ở hội Hoa Nghiêm. Ta cũng là voi, là sư tử, nhưng được huấn luyện trong tinh thần tiêu cực, thành người ăn hại, nên mặc cảm mình là cừu, không bằng ai; đạo Phật không phải như vậy. Thấy người để chúng ta so sánh và vượt khó để chúng ta làm Phật, Bồ-tát, Thánh hiền. Nếu chúng ta đã có sức thông minh thì đi vào con đường này rất nhanh.

     Chúng ta trở lại thời Trung cổ của Phật, cũng như Phật trở lại thời Phật quá khứ, Ngài nói ở Bồ-Đề Đạo Tràng xưa kia các vị Cổ Phật cũng đã thành Phật ở đây. Đọc kinh thấy vậy, nhưng Cổ Phật có ở đây hay không. Đức Phật thấy các vị Cổ Phật bằng tâm. Khi có sức thông minh, hay huệ phát thấy được vật như trái cam để trên bàn tay, nên Phật thấy luôn ba đời nhân quả, thấy người liên hệ với mình thế nào và dùng pháp gì để độ là bước thứ hai, Phật phá được sự trầm cảm. Phật đã dẫn dắt người tự ti mặc cảm, sa cơ, bị xã hội khinh rẻ tiến lên. Ngài đã chuyển hóa tâm tội lỗi, tâm không bằng ai của họ trở thành ý chí phấn đấu đi lên.

     Ngày nay, nếu trong nhà có con em sa cơ, mặc cảm thì ta là người thay Bồ-tát để chia sẻ với con em. Trái lại, khi con mình lỡ bước sa chân, mình nóng giận, mắng chửi, xua đuổi nó là đẩy nó vào con đường cùng, trong khi đó, nó cần sự chăm sóc của mình để vượt qua bệnh trầm cảm. Người bị xã hội khinh rẻ, lại bị cha mẹ ghét bỏ thì làm sao sống nổi. Vì vậy, chúng ta cần tìm hiểu để an ủi, chia sẻ nỗi khổ niềm đau, để tháo gỡ được thì tâm lý xấu của đứa trẻ được hóa giải, mặt nó tươi tỉnh lại, bớt khổ, nhân đó bệnh trầm cảm của nó được phá bớt một phần; nhưng muốn làm được như vậy, chúng ta phải tu để có năng lực chuyển hóa sự trầm cảm, thì lần lần cuộc sống của con em cũng khá lên được.

Nguồn: http://www.chuahuenghiem.net/bai-giang/phat-phap-va-doi-song/vuot-qua-tram-cam/

Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013

Kiến Thức Và Trí Tuệ - HT. Thích Trí Quảng


     Nhiều người lẫm lẫn kiến thức và trí tuệ. Theo Phật pháp, kiến thức là hiểu biết của con người sinh ra do nghe, thấy, suy nghĩ. Vì vậy, hiểu biết này là hiểu biết thông thường của con người nhờ học mà có được. Người nào chịu cực học và đọc sách vở nhiều sẽ có kiến thức rộng; nhưng tại sao Đức Phật lại nhắc nhở chúng ta rằng biết nhiều thì khổ nhiều, biết ít khổ ít, không biết không khổ. Các vị Thánh La hán được gọi là hàng vô học, còn từ tam Hiền trở xuống là hàng hữu học. Những bậc hữu học có nhiều hiểu biết trên sách vở, ngôn từ; trong khi hiểu biết của Thánh nhân là buông bỏ tất cả. Có thể nói thái độ của người học Phật khác với người học theo thế gian. Người học Phật là học có tiêu hóa, không phải chấp văn tự, ngữ ngôn.

     Học có tiêu hóa nghĩa là những gì chúng ta học được, đọc được không giữ y nguyên trong lòng chúng ta, mà phải có đào thải. Vì vậy, chúng ta loại bỏ những gì không cần thiết cho lộ trình giải thoát và chúng ta chỉ giữ lại những tinh chất dinh dưỡng của trí tuệ. Ý này được kinh Pháp Hoa gọi là nghĩa lý sâu xa bên trong, văn tự thì ở bên ngoài. Khi đào lọc những cặn bã sẽ còn lại tinh chất là nghĩa lý sâu xa, theo đó chúng ta tu tập mà Phật thường nhắc là phải đúng như pháp tu hành để sanh trí tuệ.

     Phật đưa ra thí dụ trong phẩm Tín giải của kinh Pháp Hoa, có một Cùng Tử sau bao tháng ngày lang thang đã gặp lại người cha của mình là ông trưởng giả, nhưng Cùng Tử không nhận ra, mà lại sợ quá bỏ chạy khi trông thấy người cha quá giàu sang và có nhiều quyền uy. Ông trưởng giả thấy vậy mới sai hai người hầu cận đuổi theo bắt lại. Anh Cùng Tử hoảng sợ đến ngất xỉu. Ông trưởng giả bảo không cần bắt anh ta, mà để cho anh ấy đi. Anh Cùng Tử đi qua xóm nghèo làm thuê mướn. Ông trưởng giả mới sai một người què, mộtngười chột đến dụ anh Cùng Tử trở về hốt phân cho ông trưởng giả.

     Nếu chúng ta đọc câu chuyện này, ngày nào cũng đọc như vậy mà không hiểu Phật muốn ẩn dụ điều gì, thì đó là đọc kinh không tiêu hóa. Đọc kinh có tiêu hóa là tìm nghĩa lý sâu xa bên trong thí dụ Phật đưa ra. Ông trưởng giả ví cho Đức Như Lai. Khi Đức Phật xuất hiện ở Bồ đề đạo tràng và Ngài thành Phật ở nơi đây. Vì vậy, cây Bồ đề là nơi đánh dấu sự thành tựu quả vị Vô thượng Đẳng giác của Phật. Chúng ta tới nơi đây để tìm Phật hay để đưa tâm mình trở về 2500 năm trước và nhận ra rằng Phật tâm có thể đi ngược đến tận vô số kiếp quá khứ. Không phải chúng ta chỉ lạy suông cây Bồ đề rồi cho rằng linh thiêng. Riêng tôi ngồi ở Bồ đề đạo tràng nhớ lại Đức Phật xưa kia thành đạo nơi này, Ngài đã trải qua những tầng tâm thức như thế nào. Tôi trầm ngâm suy nghĩ đến quên sự vật chung quanh và có được tâm nhẹ nhàng giải thoát đồng với tâm Phật, gọi là đồng cảm, đồng hạnh và đồng nguyện giúp cho tâm tôi kết nối được với Phật một cách sâu sắc, nên tôi hiểu về Phật, hiểu về cây Bồ đề.

     Đối với tôi, cây Bồ đề là nơi Phật giác ngộ. Cây Bồ đề được thành hình từ hạt giống Bồ đề đầu tiên Phật phát tâm, gọi là phát tâm Bồ đề và từ đó Ngài dấn thân hành Bồ tát đạo trải qua vô lượng kiếp. Nói cách khác, chúng ta hình dung ra hạt Bồ đề phát xuất từ tâm Phật, hay từ tâm chúng ta mà theo năm tháng Phật thành tựu viên mãn hạnh Bồ tát, mới nuôi lớn thành cây Bồ đề, tức tuệ giác của Phật sinh ra, thăng hoa và viên mãn, đó là ý nghĩa sâu xa của cây Bồ đề.

     Đức Phật từ khi phát tâm Bồ đề đến thành tựu quả vị Phật ở Bồ đề đạo tràng. Còn cây Bồ đề của chúng ta đang ở chặng đường nào? Khi tâm tập trung và lắng yên để tìm ý nghĩa sâu xa, chúng ta rời thế giới phàm phu, đi vào thế giới tâm linh và tâm trí chúng ta theo đó được khai mở thì như vậy, chúng ta đang từng bước thể hiện nghĩa lý sâu xa.

     Trở lại kinh Pháp Hoa, Đức Phật thành đạo ở cội Bồ đề là trí tuệ Ngài đạt đến đỉnh cao nhất, Phật nhận ra rằng tất cả mọi người đều không có sinh tử, đều sẽ thành Phật giống như Phật. Nhưng tại sao chúng ta lại mãi trôi lăn trong sinh tử. Nhận ra nghĩa lý sâu xa, tôi thấy rõ cuộc đời của chúng ta chỉ là giấc mộng, cho nên trong cuộc sống này, hay trong giấc mộng đời này thì có thuyết pháp, có việc này việc nọ, có người chống đối, v.v...; nhưng khi trở về trạng thái tâm lắng yên là cắt đứt được tất cả trần duyên thì thấy giải thoát liền. Vì vậy, tôi nói "Trần duyên thuận nghịch tâm không thiết”, người ta cung kính cúng dường mình, hay chê bai, nói xấu cũng chỉ là mộng; vì trở về cuộc sống tâm linh, tất cả những sự kiện này chấm dứt. Kinh Bát Nhã diễn tả ý này là "Độ nhứt thiết khổ ách”, tức vượt qua được tất cả khổ đau.

     Chúng ta nhận diện được hai trạng thái tâm, nếu trở lại cuộc sống thật hoàn toàn thanh tịnh thì không có vấn đề gì, nhưng sống trong mộng thì có đủ tất cả tốt xấu, vui buồn, vinh nhục, v.v...… Đọc kinh và nhận chân được nghĩa sâu sắc này là chúng ta đã tiêu hóa được kinh.

     Qua thí dụ gã Cùng Tử nói trên nhắc đến một người mù có hai chân khỏe cõng người què sáng mắt cùng đi nhằm chỉ cho hàng nhị thừa là người có trí tuệ và người có đạo đức. Kết hợp phước đức và trí tuệ để chúng ta cùng tiến tu, sẽ dễ dàng gặt hái được công đức. Quan sát thực tế chúng ta nhận ra ý này, người có phước đức ví như có của cải, nhưng không biết khai thác vì không có trí tuệ. Trái lại, người có trí tuệ nhưng không có vốn liếng thì không thể làm giàu được. Phải biết kết hợp phước đức và trí tuệ mới thành công. Xưa kia, Lưu Bị phải cầu Khổng Minh hỗ trợ vì ông này có hiểu biết nhưng không có điều kiện làm. Lưu Bị có điều kiện làm, nhưng không có cái đầu mưu chước như Khổng Minh.

     Anh Cùng Tử được đưa về làm công việc hốt dọn phân nhơ, nghĩa lý sâu của điều này là gì?Đức Phật nói rằng anh Cùng Tử thật sự không nghèo, nhưng tại anh tự cảm thấy nghèo và tự than thân trách phận. Chúng ta cũng vậy. Chúng ta là con của Đức Như Lai. Phước đức của Như Lai vô lượng, còn chúng ta nghèo, vì không nhận ra được bản chất của thân tứ đại và cuộc sống này của mình là mộng.

     Thí dụ anh Cùng Tử hốt phân gợi nhắc chúng ta liên tưởng đến Bàn Đặc dọn quét bên ngoài, nhưng biết kết hợp với dọn phiền não, nghiệp chướng, trần lao bên trong. Khi chúng ta công quả, quét dọn chùa, cảm thấy an lạc là nhờ đã quét dọn được tâm nhơ bên trong. Cùng Tử dọn dẹp phân nhơ là quét dọn tinh xá sạch sẽ thì tâm bên trong của anh cũng được trang nghiêm. Trong thực tế cuộc sống, nếu nhà chúng ta dọn ngăn nắp, sạch sẽ, mình cảm thấy khỏe, còn nhà bừa bãi làm chúng ta thấy mệt. Cũng vậy, những gì chúng ta không bằng lòng thì nên loại bỏ, đem những thứ bực bội vô lòng làm chi cho thêm khổ, rồi còn nói một câu nghe thật tội nghiệp "Sống để dạ, chết mang theo!”.Những gì không bằng lòng, chúng ta quét sạch, quét bên ngoài tinh xá trong sạch, bụi dơ trong lòng cũng bay ra. Nhờ vậy, lâu ngày, lòng chúng ta cũng sạch thì mới nhìn đời chính xác. Lúc trước, tâm còn đầy phiền não, nên nhìn đời ảm đạm và thấy mọi người không đáng tin cậy, cho nên người cũng xử sự với ta như vậy; nhưng tâm trong sáng rồi, thấy được việc tốt của người khác. Phật nói rằng sanh được làm người là có phước rồi. Cho nên, chúng ta thấy phước của người và quan hệ với cái phước đó, khai thác cái phước đó, thì họ sẽ thương mến ta.

     Nhờ quét dọn tinh xá, tâm Cùng Tử lần trong sáng thì trưởng giả cho quản lý gia tài và trưởng giả nói rằng Cùng Tử nghèo nhưng không tham lam, ích kỷ như những người làm công hèn hạ khác. Cùng tử nghèo nhưng không hèn, người khác nghèo và hèn. Theo Phật, hiểu ý sâu của cùng tử trong kinh Pháp Hoa, chúng ta cố tập sống không hèn là không tham lam, ích kỷ, làm cho người khác hưởng và tiếp tục ở am tranh cũng như ở lầu các. Ở lầu các, chúng ta nợ biết bao nhiêu người, làm sao trả nổi. Người học đạo và tu hành luôn tránh vấn đề thọ dụng, vì thọ dụng bị tổn phước; làm mới tạo được phước.

     Cùng Tử không thọ dụng, không hèn, trí tuệ phát sanh, hiểu biết nhiều, cho nên được trưởng giả giao quản lý gia tài, điều này nhằm nói đến giai đoạn Phật bổ xứ chúng ta làm, nên được Hộ pháp long thiên gia bị và thành tựu Phật sự. Và cuối cùng, trưởng giả phú chúc gia tài cho Cùng Tử.
Hành giả đi đúng lộ trình Phật dạy, từ thân phận Cùng Tử cũng có thể đi đến quả vị cao nhất là Phật quả; không phải chỉ học suông giáo pháp trên lý thuyết thì không tăng trưởng được hiểu biết, không tu được và huệ không sanh. Theo đạo Phật, học để tu mới sanh công đức, học để hiểu thôi thì chỉ có kiến thức.

     Đức Phật thành đạo ở Bồ đề đạo tràng, trí tuệ của Ngài rọi khắp Pháp giới, thì kinh Hoa Nghiêm nói rằng Phật thấy rõ từ địa ngục A tỳ cho đến Trời Sắc Cứu cánh tất cả Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát, Ngài thấy rõ tất cả hình tướng và tâm bên trong của họ, cùng những tác động qua lại giữa chúng sinh. Phật thấy như vậy không sai lầm, kinh Pháp Hoa gọi là thập như thị, cho nên Phật mới điều động được sự vật. Còn chúng ta bị vật chuyển, nên chúng ta bị lệ thuộc thiên nhiên và xã hội.

     Trên bước đường tu, làm sao chúng ta bớt lệ thuộc thiên nhiên và xã hội, nghĩa là giảm bớt điều kiện sống. Hãy nghiệm xem chúng ta có điều kiện sống càng tốt chừng nào thì càng bị thụ động, chẳng hạn như chúng ta quen ăn ngon, khi tu một Ngày an lạc ở đây, sẽ cảm thấy khó chịu với cơm hộp. Và lệ thuộc rộng là xã hội tạo điều kiện cho người càng lệ thuộc thì càng dễ sai khiến họ. Phật tử ở Mỹ về Việt Nam nói rằng ở đây tuy nghèo, nhưng sướng, vì còn thì giờ đến chùa tu. Ở Mỹ, chúng con không có thì giờ, làm việc suốt ngày, suốt tuần; nhưng làm cực khổ như vậy mà tiền không dư. Phật tử ở Việt Nam không làm gì, nhưng không thiếu, là tâm chúng ta không thiếu; vì chúng ta tu theo Phật, tham vọng được hạn chế tối đa, nên không thấy thiếu. Người tu khác người đời là biết cắt bỏ ham muốn, hạn chế được một phần ham muốn thì dứt được một phần khổ đau và phát sanh trí tuệ, cho đến hạn chế tối đa, chỉ còn ba việc là ăn, mặc và ngủ, nhưng Phật dặn chúng ta đối với ba việc này cũng "bất túc”, chúng ta tập lần như vậy để nghiệp không sanh. Bình thường ăn ba bát cơm thì no, chúng ta tập ăn hai bát thôi, hạn chế lần nên cơ thể không tăng trọng lượng. Hạn chế ăn và ngủ để chúng ta đi sâu vào Thiền quán giúp cho trí tuệ phát sanh.

     Bước đầu, Phật khuyên chúng ta phải học và đọc kinh Phật để có kiến thức và từ đó, thực tập để có trí tuệ; đó là quá trình văn, tư và tu. Phải học rộng nghe nhiều, ở đâu có pháp sư nổi tiếng chúng ta cầu học, nhưng học xong phải thực tập những gì đã học. Pháp sư giảng pháp và cuộc sống của họ cũng tốt, còn cuộc sống không ra sao thì chỉ là văn tự pháp sư, nghĩa là vị này chỉ học rộng thôi và chỉ làm công việc mà Tổ quở rằng "Sổ tha trân bảo, hữu hà ích”, tức đếm tiền cho người khác còn mình thì nghèo hoài, hoặc giới thiệu món ăn mà không được ăn, bụng đói meo. Quan trọng là phải ăn mới no, phải có tiền để sống. Nếu giới thiệu Phật và Bồ tát làm những việc công đức, còn mình làm gì. Hòa thượng Thanh Từ kể rằng khi Ngài mới ra trường giảng về bốn quả của Thanh văn, có một Phật tử hỏi Ngài chứng được quả nào chưa. Tôi nghĩ đây là Bồ tát hiện ra để nhắc nhở Hòa thượng tu, nên Ngài đã ra núi Lớn tham Thiền và chứng được quả Ly sanh hỷ lạc, nghĩa là được an lạc ở ngoài cuộc sống, sự an lạc nội tâm không lệ thuộc cuộc đời và thiên nhiên. Cuộc sống thế nào, hoàn cảnh thế nào, Ngài cũng an lạc, vì trụ tâm, không chạy theo vọng trần vọng nghiệp. Chưa chứng quả nào thì không làm vừa lòng ai, nhưng ra núi tu một mình, thấy an lạc, Tăng Ni, Phật tử tự động tìm đến cầu học với Ngài.

     Chúng ta học để mở rộng kiến thức và nhờ kiến thức mà hiểu nghĩa lý sâu để ứng dụng vào cuộc sống tu hành. Và thực tập được quả nào là huệ phát sanh. Như vậy, khởi đầu bằng kiến thức và cuối cùng có trí tuệ. Người tu không có trí tuệ vì bị vướng mắc với ngữ ngôn văn tự trong sách vở. Người thực tập vượt qua sách vở để có trí tuệ.

     Theo Phật, quán Tứ niệm xứ để sanh huệ thì trước tiên, chúng ta thâm nhập được thế giới Không. Bấy giờ, huệ là Không, là giải thoát môn, chúng ta sẽ nhận ra lằn ranh giữa sanh và tử, sanh trong thế giới này và chết chúng ta ở thế giới Phật và ngược lại, từ thế giới Phật, sanh lại thế giới này. Nói cách khác, chúng ta quên thế giới này, đi xa đến thế giới Thật báo trang nghiêm là thế giới Thiền định thì ta giống như người chết giả trên cuộc đời.

     Như vậy, đi qua cánh cửa đầu tiên bằng Tứ niệm xứ quán, thì huệ sanh do cắt bỏ trần duyên, nên có được hiểu biết đúng như thật về bề mặt và bề trái của cuộc đời. Và nếu thực tập trọn vẹn 37 trợ đạo phẩm, đạt được Bát chánh đạo thì cũng là ba nghiệp thân khẩu ý này, nhưng là con người hoàn thiện với chánh kiến, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh ngữ, chánh tinh tấn, chánh tư duy, chánh niệm và chánh định.

     Chánh kiến là nhìn cuộc đời chính xác bằng trí tuệ, không phải thấy theo kinh nghiệm, hay sách vở. Thực tế chúng ta thấy người có kinh nghiệm nhiều thì khó gần gũi được, vì họ hay phê phán, chỉ trích, bắt lỗi đủ thứ. Thấy theo kinh nghiệm hoàn toàn không chính xác, nhưng thành tựu huệ trong Bát chánh đạo là chánh kiến thì Như Lai thấy không sai lầm và thấy thế giới này một cách rõ ràng như thấy trái cam trong lòng bàn tay.
Tu theo Phật, việc quan trọng nhất làm sao chúng ta thấy biết mọi người, mọi việc thật chính xác. Người ta đến nói đủ thứ, nhưng chúng ta thấy được động cơ trong nội tâm của họ, tức là Hành uẩn, họ đang tính toán cái gì. Sợ nhất là vô minh, hay lòng tham của ta nổi lên làm mờ mắt mình. Có một Thầy kể rằng ông gặp một người quen gọi lại nói rằng có mấy thỏi vàng, nhưng vội quá không đi bán được, nhờ Thầy bán giùm và trả cho họ một số tiền ít hơn giá trị của vàng, nhưng thật ra đó là vàng giả. Nếu có trí tuệ thì phải biết được họ dụng ý gì, đừng để lòng tham làm mờ tâm trí mà đưa tiền mua để được lời nhiều. Học Phật là phải có huệ để thấy biết người và việc một cách chính xác. Các vị Thiền sư ngày xưa phò vua giúp nước, làm nên đại nghiệp, điển hình như Thiền sư Vạn Hạnh đã khuyên vua Lê Đại Hành không cần đánh, chỉ ngồi yên trong điện các mà vẫn thắng. Quả đúng như vậy, trong 21 ngày, giặc Tống phải tự rút lui. Thiền sư Vạn Hạnh thấy rõ được tâm trạng của quân Tống, với chánh kiến đúng đắn hoàn toàn như vậy cho nên lời dạy của Ngài được mọi người coi như sấm. Nói ít, nhưng nói ra điều gì cũng đúng hoàn toàn. Người đời nói nhiều thì lỗi nhiều vì lời nói phát xuất từ tà tâm, tà kiến.

     Tóm lại, Bồ tát trong kinh Pháp Hoa thấy thế giới này không cần thiết, nhưng các Ngài trở lại cuộc đời để độ sanh, gọi là "Xuất một vị tha tác tắc”, tức là vào cuộc đời này hoàn toàn tự tại, đủ duyên thì vào cuộc đời độ sanh, hết duyên thì ra khỏi cuộc đời. Không có việc gì, không có người nào có thể làm vướng bận tâm trí Bồ tát, không có vinh hoa phú quý nào cầm giữ được bước chân hoằng pháp độ sanh của Bồ tát. Bồ tát ra đi khỏi thế gian, hay lưu lại cõi hồng trần này, Bồ tát làm mọi việc hay ẩn tu, không làm gì cả, đều phát khởi từ tuệ giác và đứng trên Bát chánh đạo mà hành sử mọi việc trên tinh thần vị tha vô ngã, đem lại ánh sáng trí tuệ và đạo đức cho tất cả mọi người.


(Bài giảng khóa tu Một ngày an lạc lần thứ 84 tại chùa Phổ Quang ngày 18-10-2009)

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

Hộ Trì Phật Pháp - HT. THÍCH TRÍ QUẢNG


   Hộ trì Phật pháp là một câu tiếp theo của câu tuyên dương Chánh pháp, vì có Chánh pháp, chúng ta mới hộ trì. Thật ra chỉ có Phật mới có Phật pháp, vì Phật là bậc Toàn giác thấy được chân lý và pháp là chân lý, Ngài đem hiểu biết truyền đạt cho mọi người để họ nhận ra chân lý và áp dụng trong đời sống để trở thành Hiền thánh. Như vậy, Phật và Thánh chúng mới có Phật pháp. Còn chúng ta chỉ đóng vai hộ trì Phật pháp và đó cũng là nguyện của tất cả Bồ-tát từ mới phát tâm cho đến Bồ-tát Đẳng giác đều hộ trì Phật pháp.

     Hòa thượng Trí Thủ có lời nguyện rằng đời đời kiếp kiếp đều làm quyến thuộc của từ bi để hộ trì Phật pháp còn mãi trên thế gian làm lợi lạc cho chúng hữu tình. Lời nguyện này của Hòa thượng cũng là lời nguyện của chư Bồ-tát mà chúng ta cần phải học; vì đời đời kiếp kiếp làm quyến thuộc của đạo từ bi, nghĩa là chúng ta tu không phải chỉ một đời, nhưng đời trước chúng ta đã từng phát tâm Bồ-đề, gieo trồng căn lành, nên đời này mới được mang thân người và có tâm hộ đạo. Và đời này chúng ta cũng phát nguyện như vậy để kiếp sau không quên, tái sanh lại thế giới này. Điều này trái với tư tưởng tiêu cực của những người nhàm chán thế giới đang sống và việc đang làm. Họ muốn bỏ thế giới này để đi tìm việc mới ở thế giới mới. Thuở nhỏ học pháp môn Tịnh độ, tôi nghĩ thế giới Ta-bà này do Phật Thích Ca làm giáo chủ. Bậc Đại đạo sư này còn hiện hữu ở đây, nhưng chúng ta bỏ thầy bỏ bạn để tìm nơi khác thì tôi cảm thấy không yên tâm.

     Tôi tự hỏi Phật Thích Ca nhập Niết-bàn rồi, nhưng Ngài còn hay mất. Nếu Ngài còn thì chúng ta nên tìm Phật Thích Ca. Nếu Phật chết, không còn nữa, thì chúng ta không tìm Phật Thích Ca và cũng không tu là rơi vô đoạn kiến. Tôi luôn suy nghĩ và cân nhắc điều này. Đến khi học kinh Pháp hoa, đọc phẩm Như Lai thọ lượng thứ 16, tôi vụt bừng tỉnh. Như vậy, Phật Thích Ca bất tử, chúng ta mới yên tâm đi tìm Phật bất tử. Tìm Phật này ở đâu là câu hỏi được đặt ra để tôi hết lòng tìm Phật cho được.

     Bấy giờ, tôi nhận ra được ý nghĩa Phật nói rằng Ta thành Phật ở chỗ này có tên này, thành Phật ở chỗ khác có tên khác, tùy nhân duyên hoàn cảnh mà Phật hiện thân giáo hóa và khi hết duyên, Phật thị hiện Niết-bàn. Vì vậy, trong thế giới sanh diệt, Phật vẫn hiện thân và trong thế giới vô sanh, Ngài vẫn thường trú, nên có thêm Phật thường trú Pháp thân.

     Tôi học Đại học của Nhật Liên tông có đưa ra việc sử dụng tam đại bí pháp để tu, trong đó có Bổn môn Bổn tôn tức Phật mà chúng ta tôn thờ là Phật bất sanh bất diệt, Phật thường trú, còn Phật Thích Ca giáng sanh ở Ấn Độ là Phật thị hiện. Vì nếu Phật không thị hiện trên cuộc đời này, chúng ta không biết đạo Phật; cho nên Ngài phải mang thân người là thái tử Sĩ Đạt Ta, nhưng bên trong con người tứ đại của Ngài là Phật. Chính vì vậy mà tâm hồn của thái tử không giống người thường, Ngài mới thành Phật và trong suốt 49 năm Phật giáo hóa độ sanh, Ngài thành tựu viên mãn một cách nhẹ nhàng. Đến khi Phật Niết-bàn, Ngài khẳng định rằng điều đáng nói Ta đã nói, người đáng độ Ta đã độ, việc đáng làm Ta đã làm. Và Ngài về Niết-bàn sống với thế giới vĩnh hằng bất tử. Kinh Pháp hoa dạy rằng Phật nói Niết-bàn để cho mọi người sanh lòng khát ngưỡng mới tìm Phật và tu hành sẽ gặp Phật. Như vậy, Phật sẽ hiện ra cho người có trồng căn lành, cho người khát ngưỡng Phật pháp, cho người hộ trì Phật pháp không tiếc thân mạng.

     Kinh Pháp hoa nói nếu người vì Chánh pháp không tiếc thân mạng, Ta hiện ra nói thường ở đây, không nhập diệt. Nghĩa là Phật vẫn hiện hữu, nhưng vì vô minh vọng kiến ngăn che, chúng ta không thấy Phật, nghĩ là Phật mất rồi. Vì vậy, người tu quyết tâm thực hành Chánh pháp không tiếc thân mạng, Phật hiện ra cho người đó.

     Giờ nào chúng ta không tiếc thân mạng? Kinh Pháp hoa nói khi mạng chung là khi phiền não, nghiệp chướng, trần lao chấm dứt thì Phật hiện. Đức Phật gợi ý rằng khi Ngài hành Bồ tát đạo tên là Thường Bất Khinh Bồ-tát có nguyện hộ trì Chánh pháp. Ngài gặp chư Tăng thì cung kính đảnh lễ, nhưng hàng tăng thượng mạn đánh mắng hành hạ Ngài. Như vậy, việc hộ trì Phật pháp không đơn giản.

     Nếu nghĩ phải xây chùa, đúc chuông, làm mọi việc để Phật pháp còn, nhưng khi Phật pháp suy đồi thì chúng ta có thể làm Phật pháp tồn tại được hay không. Phật pháp suy đồi, chúng ta gặp tục chúng tăng thượng mạn, tiếm thánh tăng thượng mạn, đạo môn tăng thượng mạn thì không thể nào hộ trì Phật pháp được. Ta vì pháp không tiếc thân mạng, nhưng không phải là liều mạng; vì liều mạng là người vô trí. Tôi nhớ vào năm 1963, một số bạn rủ tôi tự thiêu, tôi cũng bắt chước ký tên xin tự thiêu; nhưng may mắn tôi gặp một Hòa thượng không biết tên nói với tôi rằng thầy định tự thiêu phải không. Bao giờ thầy làm được như Bồ-tát Quảng Đức thì mới nên tự thiêu; không làm được như Ngài, thì nên cân nhắc. Tôi nghe dạy như vậy thì không nộp đơn xin tự thiêu nữa. Một vị cao tăng tự khai ngộ cho tôi, muốn tự thiêu được như Bồ-tát Quảng Đức thì phải làm sao? Chúng ta không biết kiếp trước của Bồ-tát Quảng Đức như thế nào, nhưng trong kiếp này, Ngài đã có bốn mươi chín năm trì kinhPháp hoa và xây dựng rất nhiều ngôi chùa, nhất là Ngài tuyệt đối không làm mất lòng người, đến đâu Ngài cũng gieo vào lòng người sự tôn kính; đó là hộ trì Phật pháp. Phật dạy rằng đi tu mà làm não phiền người thì không phải là Sa-môn. Trên bước đường tu, Bồ-tát Quảng Đức không làm não phiền người. Còn xuất gia tăng thượng mạn làm não phiền người và cư sĩ tại gia làm não phiền người là ác ma quấy nhiễu Phật pháp. Họ nhân danh Phật tử, nhưng làm việc của ác ma, hành động, lời nói, suy nghĩ không giống Phật thì sao là đệ tử Phật được. Giống ma là con của ma, nhưng nhân danh Phật. Ma này là ma tham, ma giận, ma si mê, ma kiêu căng ngã mạn… Nếu trong lòng chúng ta còn xem thường người khác, coi chừng bị ma tăng thượng mạn ám thì có tụng một ngàn bộ kinh Pháp hoa cũng cách Phật xa.

     Người xuất gia hay tại gia đều phải cân nhắc làm gì cho người phát tâm, làm cho người sanh tâm kính Phật trọng Tăng. Xuất gia tăng thượng mạn là người mang hình thức xuất gia nhưng làm việc của thế tục, cũng có ham muốn, phiền não khiến cho người trông thấy phải thoái tâm. Ví dụ có thầy nghĩ đi tu làm Phật sự là nghĩ phải kiếm tiền xây chùa, đúc tượng, hay bố thí cúng dường. Như vậy coi chừng rơi vô tăng thượng mạn, dù kiếm tiền lương thiện, huống chi là kiếm tiền không lương thiện. Tôi luôn cân nhắc ý này. Vì Phật dạy người xuất gia cố tránh vấn đề liên hệ đến tiền bạc, vì việc này là của cư sĩ tại gia. Người xuất gia nắm tiền bạc coi chừng bị đọa, rơi vô hàng tăng thượng mạn. Nếu xây chùa, ta phải mua chịu vật tư của cửa hàng; nhưng xây chùa chưa xong mà chết. Một chủ cửa hàng là em họ tôi hỏi rằng có một thầy mua vật tư còn thiếu tiền nhưng chết rồi thì phải làm sao. Tôi bảo rằng chỉ còn cách đến trước quan tài khấn rằng số thiền thầy thiếu, con cúng cho thầy, thầy yên tâm. Làm như vậy là giải thoát cho thầy trụ trì và mình được sanh công đức. Còn nhớ đến món tiền nợ mà tức tối, buồn giận, không đi chùa thì tiền cũng không lấy lại được mà còn bị đọa.

     Trên bước đường tu, hộ trì Chánh pháp là việc khó. Ta hộ trì không đúng cũng tội. Một số Phật tử thấy thầy tu cực khổ thì thương kính cúng dường quá mức, nhưng ông này hoàn tục, họ không cúng nữa, dù gặp thầy tốt; như vậy là tu hành từ tâm tốt chuyển thành tâm xấu. Phật dạy chúng ta hộ trì Chánh pháp là khi bố thí, cúng dường, phải biết bố thí cúng dường cho ai, để người này làm gì. Phật dạy rằng trong cuộc đời của Ngài có hai lần nhận của cúng dường tuy phẩm vật nhỏ nhoi, nhưng công đức lớn nhất; đó là bát sữa của cô gái chăn bò và bó cỏ trải cội bồ-đề của cậu bé chăn bò. Anh này chỉ cúng Phật có một bó cỏ mà được sanh lên cõi Trời, làm vị Trời tên là Cát Tường thiên, nên cỏ này có tên là cỏ Cát Tường, vì anh cúng dường đúng đối tượng. Thật vậy, khi Phật Thích Ca sắp thành Phật, hai người này có duyên lành được dâng cúng Phật thì trải qua suốt 49 năm Phật thuyết pháp giáo hóa được biết bao nhiêu là chúng sinh và giáo pháp của Phật vẫn còn được mọi người tiếp tục tu học, cho nên công đức đó vẫn được chia cho hai người này. Còn nếu cúng sai đối tượng, họ hoàn tục không tu nữa, ta sẽ phiền não, đau khổ, cho đến trong gia đình xảy ra sự bất hòa, thậm chí làm ăn thất bại; như vậy cúng dường mà rơi vào hoàn cảnh khó khăn thì sẽ không còn ý thức muốn cúng dường nữa.

     Một Phật tử thưa với tôi rằng họ đi phát quà cho người nghèo, khi ra về, không biết đường đi ra, gặp một người ôm gói quà, mới nhờ người này dắt đường. Họ bảo phải đưa bao nhiêu tiền thì mới chịu dẫn đường. Ông này tức quá nói rằng con sẽ không bao giờ đi phát quà cho người nghèo nữa. Trong trường hợp này, bao nhiêu công đức trở thành tội chướng; như vậy, hộ trì Chánh pháp quả là khó.

     Làm sao chúng ta tu hành mỗi ngày tâm chúng ta hoan hỷ, an lạc là đã hộ trì Chánh pháp. Vì Chánh pháp ở ngay trong lòng chúng ta. Mỗi ngày đem ý đẹp của Phật vào lòng là chúng ta luôn giữ gìn Chánh pháp trong lòng, không mất. Nếu Phật trong lòng mình chết thì còn hộ trì cái gì nữa. Niệm Phật, nhớ Phật; niệm kinh nhớ lời dạy của Phật là hộ trì Phật pháp. Những gì thực tu được trong lòng chúng ta không ai biết, khác với người hộ trì Phật pháp theo vọng tâm, bố thí, cúng dường thường khoe khoang. Những người bố thí, cúng dường, nhưng tâm họ muốn mọi người biết, nếu người không biết thì họ khó chịu, từ đó sanh ra một nhóm người dụm năm dụm ba nói chuyện phải trái hơn thua.

     Hộ trì Phật pháp bằng cách không nói, bằng cách giữ tâm thanh tịnh, thì người đó gần Phật, tới với Phật được. Hộ trì Phật pháp là hộ trì trong lòng mình và trong lòng mình có Phật thì Phật sẽ chỉ đạo cho lời nói, suy nghĩ và hành động của mình trở thành Chánh pháp. Phật khác với mọi người, tuy Ngài mang thân người, nhưng thân, miệng và ý của Ngài đều có chư Phật chỉ đạo. Bao giờ lời nói, suy nghĩ và việc làm của chúng ta được Phật chỉ đạo, chúng ta không phạm sai lầm; không có Phật chỉ đạo dễ mắc phải lỗi lầm. Phật Thích Ca sáng thức dậy, Ngài nhập định để tạo mối quan hệ giữa Ngài với chư Phật mười phương, để Phật mười phương soi sáng tâm Ngài, để Ngài nhận thấy những người hữu duyên mà đến độ, vì Phật chỉ độ được người có duyên dù là ác duyên hay thiện duyên. Phật thấy Sunita ở giai cấp thấp nhất trong xã hội Ấn Độ, nhưng ông này có duyên với Ngài thì Ngài độ ông, chuyển hóa ông từ người hốt phân trở thành Thánh, chỉ cần bỏ gánh phân xuống là ông đắc quả vị A-la-hán. Phật dạy rằng người thấy nhân duyên là thấy chân lý, là Phật thì không còn sai lầm. Còn chúng ta sai quá nhiều, nên không đi lên được mà chỉ đi xuống. Nếu chúng ta đúng được 50% thì coi như giẫm chân tại chỗ. Tu hành sai ít đúng nhiều, mới thăng hoa được.

     Được Phật hộ niệm, lòng chúng ta có Phật thì sáng lên, thấy đúng những việc xảy ra và quan trọng là phải biết cách ứng xử trong mọi tình huống. Ví dụ thấy rõ người mà ta thiếu nợ, ta chuẩn bị tiền để trả thì không có vấn đề gì, hoặc có người đến quấy nhiễu, ta cũng có cách giải quyết êm thắm. Gặp việc đáng mừng không mừng, gặp việc đáng giận không giận. Không lo nghĩ tính toán, nhưng việc đâu vào đó, việc tốt tự đến.

     Hộ trì Chánh pháp là đầu tiên hộ trì ngay trong lòng ta và từ đó, Phật pháp thể hiện ra cuộc sống. Tấm lòng là chính, nhưng cuộc sống mới quyết định. Vì vậy, thấy người tốt nhưng cuộc đời lận đận, chúng ta thường nói người ngay mắc nạn; nói như vậy là ta mới nhìn hiện tại, không nhìn được quá khứ. Quá khứ gần là nói hùm sói đi tu, tức người tội lỗi nhiều mới tu; còn thằn lằn cắc ké không tu. Nhiều người nói tôi ăn hiền ở lành mắc gì phải tu. Tôi quan sát người siêng tu, cúng dường, làm phước, nếu nhìn xa quá khứ sẽ thấy họ có điều gì u uất trong lòng, họ mới tới chùa lạy Phật hết lòng. Còn người gặp may mắn, tốt lành, không ai tu. Chỉ có Phật Thích Ca đang sung sướng mà bỏ ngai vàng đi tu, vì Ngài là Phật hiện thân lại, hay Bồ-tát tái sanh. Còn đa số chúng ta bị khổ mới tu.

     Khi chúng ta hộ trì Chánh pháp ngay trong lòng mình, chúng ta trở thành người hiền lành, chân thật trong cuộc sống, khiến cho người trông thấy nghĩ là Phật làm tốt và người quý trọng họ. Rõ ràng người này đã hộ trì Chánh pháp. Tôi có người chú làm cư sĩ, nhờ ông này mà tôi phát tâm tu. Ông thương vợ, bất chợt vợ bị chết, ông cất cái am nhỏ tụng kinh để siêu độ cho bà. Tôi may mắn ở trọ với ông để đi học, nhờ đó tôi được nghe kinh và đi tu. Ông là cư sĩ có cuộc sống rất thanh bần đẹp đẽ. Một hôm vào sáng sớm, ông bảo tôi tưới rau với ông. Hai chú cháu ra vườn rau, bỗng ông kéo tôi núp vào bụicây, không cho tôi nói, tôi không biết gì cả. Lúc đó, tôi trông thấy người hái trộm rau. Ông bảo người này rất quen, nếu bị phát hiện, họ sẽ xấu hổ. Vậy để họ lấy rau đi rồi, mình hãy ra. Sau này, người đàn bà hái trộm rau biết ông tốt như vậy, mới thú nhận tội lỗi của mình và xin được hầu hạ ông suốt đời. Ông mỉm cười không nhận. Như vậy, làm việc tốt cho người phát tâm chính là hộ trì Chánh pháp.

     Tóm lại, ta làm được một việc tốt là ta hộ trì Phật pháp ở ngay trong lòng ta và ở trong lòng người cũng phát tâm là chúng ta có thêm một người bạn. Cứ như vậy mà có nhiều người tu trên cuộc đời là Phật pháp còn sống động. Rộng hơn nữa, ta làm cho xã hội tốt là thay Phật làm lợi lạc chúng hữu tình, là hộ trì Phật pháp tốt hơn nữa. Còn làm ngược lại là phá pháp thì cuộc đời sẽ đi xuống. Mong rằng tất cả Phật tử trong đạo tràng đều phát tâm tu hành, hộ trì Chánh pháp còn mãi trên thế gian này lợi lạc cho mọi người.

Thứ Bảy, 16 tháng 3, 2013

Hạnh Phúc Từ Những Điều Bình Dị - HT. Thích Trí Quảng

     Bàn về hạnh phúc ở trong đời thường từ những điều bình dị để chúng ta nắm bắt được trong cuộc sống. Con người tham vọng nên nghĩ hạnh phúc tùy thuộc ở tiền của và địa vị xã hội; nhưng khi chúng ta cố gắng kiếm tiền và địa vị đạt được ở đỉnh cao cũng không thấy hạnh phúc.

     Đức Phật dạy rằng truy cầu là khổ, được cũng khổ và mất càng khổ hơn; bằng tuệ giác, Phật thấy như vậy. Vì vậy, người ta nghĩ trên thế gian không tìm được hạnh phúc, nên mong sau khi chết sẽ có hạnh phúc ở thiên đường. Từ sự nhận thức như vậy của con người, Phật mở phương tiện dạy chúng ta hạnh phúc có ở Cực lạc. Cực lạc là cùng tột của sự an lạc, là hạnh phúc tuyệt đối. Chúng ta tổng hợp lời Phật dạy thì thấy ở hoàn cảnh nào cũng tìm được hạnh phúc, nghĩa là hạnh phúc ở trong tầm tay, nhưng không nắm bắt, mà mong cầu hạnh phúc ở đâu xa thì không bao giờ nắm tới.

     Khi quý vị bình tâm suy nghĩ sẽ thấy hạnh phúc có ngay trong tầm tay, nhưng chúng ta không biết giữ nó, đó là hạnh phúc ở tâm an lạc. Phật dạy truy cầu là khổ, nên muốn có hạnh phúc, phải cắt bỏ cái tâm ham muốn là diệt dục; nhưng chúng ta quá tham, sợ bỏ sẽ không có hạnh phúc. Phật dạy rằng nếu bỏ tâm ham muốn sẽ có hạnh phúc ngay, vì chính khát vọng làm chúng ta bất hạnh. Thật vậy, trên thực tế chúng ta thấy có người phải hạnh phúc, như họ có nhiều tiền của, nhưng họ không hạnh phúc. Họ nói rằng họ khổ lắm vì lúc nào cũng lo lắng, cũng sợ mất, việc sản xuấtcủa họ có thể mất trắng, hay có thể tù tội. Có một cơ nghiệp lớn, nhưng làm họ không hạnh phúc bằng người bình thường chỉ có một bát cháo loãng buổi sáng, nhưng anh này thanh thản, an lạc, vì không có tham vọng, không truy cầu. Anh kia giàu có tiền tỷ nhưng không hạnh phúc.
     Trong nếp sống tu hành, khi ở Nhật Bản, tôi tu ở chùa Tổng Trì, các thầy buổi sáng ăn cháo trắng với củ cải muối, nhưng họ diệt dục, nên được an lạc là hạnh phúc lớn nhất. Tôi đọc câu chuyện ngày xưa có ông vua đã ăn quá nhiều món ngon, nên bảo rằng ai cho ông ăn món ngon chưa từng ăn thì sẽ chia cho một nửa giang san. Bấy giờ, vị thiền sư thưa với vua rằng có một món ăn ngon mà chắc chắn vua chưa từng ăn gọi là mầm đá. Vua mới ra lệnh làm món đó cho vua ăn. Nhà sư đem về mấy viên đá cuội để lên bếp nấu, chờ đá chín nhừ để cho vua ăn, nhưng chờ tới trưa, ông vua đói quá. Thiền sư mới lấy một nắm cơm nguội với hạt tương cho vua ăn đỡ trong khi chờ đá chín. Vua cảm thấy ngon quá, xin thêm mấy vắt cơm nữa. Điều này cho thấy rằng khi đói thì món ăn đơn giản cũng ngon.Như vậy, hạnh phúc tới với vua chỉ có cơm nguội, còn tìm món ngon thì không bao giờ vua cảm nhận được; nói cách khác, hạnh phúc ở trong tầm tay, nếu biết nắm bắt.

     Phật dạy chủ yếu là tâm an lạc làm chúng ta có tầm nhìn sáng hơn để đắc đạo. Còn vì tham vọng lớn thì không bao giờ thỏa mãn, sẽ luôn thấy mình bất hạnh. Người giàu thì khổ tâm nhiều, người địa vị cao cũng khổ nhiều, bận rộn nhiều. Người bình thường không địa vị, không giàu có, nhưng họ biết giữ tâm an lạc, không truy cầu, ngay chỗ đó, họ được hạnh phúc. Nhưng nói như vậy, Phật tử lại hiểu lầm, nảy sanh tiêu cực là không truy cầu, không ham muốn thì xã hội sẽ như thế nào, đời sống ra sao, là hai cực đoan. Người truy cầu thì khổ cực, nhưng người vô cầu không biết gì, không khác gì con kiến là sai.

     Vì truy cầu, nên không thấy xa, phạm sai lầm thì khổ này chồng chất khổ kia mà kinh Hoa nghiêmdạy trùng trùng duyên khởi là con đường sai lầm chúng ta từ bỏ; nhưng từ bỏ tham vọng để trí tuệ sáng lên, thấy được con người thực và hoàn cảnh thực của chúng ta thì bấy giờ chúng ta xử trí như thế nào cho tốt nhất; hạnh phúc của chúng ta là ở đó, là biết sống, không phải từ bỏ suông. Từ bỏ để có trí tuệ, biết sống có ý nghĩa là cốt lõi quan trọng của đạo Phật. Có người bạn nói rằng tôi chết tới nơi mà không lo. Tôi trả lời lo cũng chết thì lo làm chi. Bạn tôi quá lo, quá sợ, nên chết. Tôi càng gặp khó khăn càng bình tĩnh, sáng suốt để không phạm sai lầm, chứ không nên theo tham vọng hão huyền. Chính nhờ bình tĩnh sáng suốt mới tìm thấy giải pháp đúng đắn. Thầy tôi dạy rằng trước cái chết, nếu sợ thì không thoát được chết, nhưng không sợ chết, may ra còn sống, hay còn trí tuệ để nhìn thấy hướng thoát. Vì vậy, từ bỏ tham vọng để chúng ta sáng suốt, quyết định vận mạng mình đúng đắn.

     Có thể nói hạnh phúc không lệ thuộc vật chất, nhưng lệ thuộc tâm con người. Những gì không cần thiết, chúng ta cắt bỏ, sẽ thấy hạnh phúc ngay trong tầm tay. Phật dạy bỏ tất cả để được tất cả. Thật vậy, cuộc đời của Phật đã thể hiện rõ rệt ý này. Ta thấy Ngài bỏ tất cả những gì thế gian tham đắm, nhưng những gì Ngài được quá siêu tuyệt. Còn các bậc quân vương khác cố gom tất cả, nhưng mất tất cả. Riêng tôi đã thực tập lời Phật dạy, tất cả những gì không nằm trong tầm tay thì vứt bỏ vì nó dẫn đến khổ đau. Ai nói việc gì lợi, tôi không quan tâm, bỏ hết để trở lại con người thực và hoàn cảnh thực của chính mình. Bấy giờ, ta dùng trí tuệ thấy được nên làm thế nào thì làm vậy, sẽ thấy hạnh phúc trong đời thường. Còn có tham vọng, chen vô việc khác hơn sẽ không có hạnh phúc.

     Con người thực của chúng ta là gì? Đầu tiên chúng ta thấy sức khỏe và sự thông minh hiểu biết của mình chừng này thì nên làm vừa tầm mức như vậy, làm vượt hơn chắc chắn không được. Chẳng hạn khi tôi còn trẻ có sức mạnh, có thể nhấc một vật nặng một tay, nhưng bây giờ 75 tuổi thì không thể làm vậy. Biết mình lớn tuổi và sức khỏe tới đâu, nên ra vườn, tôi cầm cây gậy chống đỡ, vì sợ hai chân yếu, sẽ bị ngã. So với ba mươi năm trước từ trên núi Thị Vải, tôi dùng thuật phi hành xuống núi không quá năm phút, nhưng bây giờ 75 tuổi phải khác với thanh niên 25 tuổi. Ráng sức quá thì coi chừng nguy hiểm. Biết cân nhắc sức mình sẽ bảo đảm được sức khỏe. Có sức khỏe tốt để được hạnh phúc, vì sức khỏe gắn liền với tâm. Sức khỏe mất, tâm cũng đau theo. Sáng nay, tôi thấy cơ thể không được an, dù tâm an. Phật tử cho ly sữa, hay nước cam, tôi không uống, là có trí tuệ tự biết lúc đó cái gì cần cho mình khỏe, không phải cái gì bổ cũng dùng được. Ta biết được cơ thể mình và tự điều chỉnh nó cho tốt là có hạnh phúc ngay, vì giữa thân và tâm có ảnh hưởng hỗ tương. Thi sĩ Trần Đới diễn tả ý này rằng: "Nghiệp người vướng sắc mắc danh. Tỉnh ra danh sắc tự hành hạ nhau”. Nói cách khác, sức khỏe hành tâm chúng ta và ngược lại, tâm ảnh hưởng đến sức khỏe; vì mình có ham muốn nên không khỏe, nhưng ăn vô thức ăn không hạp thì bệnh, hay cố gắng làm gì vượt sức cũng bệnh, là thân bị tâm hành hạ, rồi tâm cũng khổ. Dùng trí tuệ điều chỉnh những gì tâm ham muốn không hợp lý, ta cắt để bảo đảm sức khỏe, nên điều hòa được thân tâm yên ổn. Các vị Thánh tăng hạnh phúc nhất, vì biết điều chỉnh. Các ngài không có thức ăn nhiều, không có địa vị, nhưng biết điều chỉnh tâm và thân, có thể một ngày ăn một lần, nhưng bảo đảm sức khỏe. Cơ thể không đòi hỏi nhiều như tham vọng của chúng ta. Chính tham vọng và cái tưởng sai lầm của chúng ta nhồi nhét cho cơ thể nhiều, thân sẽ bệnh. Các vị La-hán không ăn nhiều, nhưng thân khỏe và tâm an.

     Đức Phật tội nghiệp ông chủ đồn điền bị mất bò, ông khổ và khóc; trong khi các thầy hạnh phúc hơn vì không có con bò để mất. Nhờ không bận tâm, các thầy không hao tổn sức lực, nên ăn ít được. Tôi quan sát thấy tội nghiệp con người. Không có gì ăn thì bị suy dinh dưỡng, nhưng có thức ăn nhiều, bị thừa đạm, thì sanh thấp khớp đầu gối, đau nhức. Tôi nhờ giữ được sức khỏe, vì không ăn nhiều đạm, không ăn nhiều chất béo, biết tuổi càng lớn, không phát triển, nên không đòi hỏi nhiều như lúc trẻ. Phật tử lớn tuổi nên bớt ăn đạm, bớt ăn tinh bột; ăn rau và quả nhiều. Có trí tuệ biết cơ thể cần gì cho vừa đủ, không hành hạ tâm để tâm được yên thì chúng ta được sáng hơn.

     Đời sống của Sa-môn không có gì, nhưng giữ được hạnh phúc, không có tiền, không địa vị, nhưng họ không có tham vọng, nên không khổ và họ biết cơ thể không đòi hỏi nhiều, nên ăn ít nhưng bảo đảm được sức khỏe. Trở lại đời thường, so với đời sống của Đức Phật và Thánh tăng, chúng ta có chỗ ở và có thu nhập tối thiểu bảo đảm cuộc sống, đương nhiên chúng ta phải có hạnh phúc hơn. Chúng ta thấy ngay hạnh phúc ở chỗ này và nắm giữ nó. Chỗ ở của chúng ta khiêm tốn đến mức nào thì giữ ngay mức này. Người có một ngôi nhà, nhưng mua thêm nhà và đất đai và khi vật giá thay đổi thì khổ. Chúng ta có chỗ ở khiêm tốn, coi cuộc đời này là quán trọ, ở đây một thời gian tu hành rồi sẽ ra đi. Vì vậy, dành thì giờ cho việc tu tập và chuẩn bị sự ra đi của chúng ta, khi từ giã cuộc đời này, chúng ta đi đâu. Không quan trọng chỗ ở, ở tạm cuộc đời này một đêm, hay một kiếp người. Điều quan trọng là chuẩn bị ra đi làm sao đổi ngũ uẩn thân này để có ngũ uẩn thân sau tốt hơn.

     Đối với thân vật chất, có chỗ ở khiêm tốn, thu nhập tạm đủ, chúng ta yên tâm với cái có này, để có tầm nhìn sáng suốt hơn để chúng ta sẽ làm gì đây. Ta sống khiêm tốn sẽ có thặng dư giá trị, không đòi hỏi nhiều thì ai cũng có phước báo riêng. Vì vậy, chúng ta không mong cầu, nhưng có phước thì phước sẽ tự tới, không phải không mong cầu rồi chúng ta không có. Có phước thì không mất, sợ là chúng ta có của, nhưng không có phước thì rất khổ. Có phước thì sao?

     Phước lớn nhất mà chúng ta có được theo Phật là tình người, anh em, bạn bè, ai cũng thương quý mình, thủy chung với mình là hạnh phúc lớn nhất, giàu nghèo chưa nói. Ta sống sao không mất lòng ai. Hòa thượng Trí Thủ lúc còn sanh tiền thường nói rằng tình bạn quan trọng nhất. Ta thành công cũng nhờ bạn, ta mất mát cũng vì bạn. Vì vậy, Hòa thượng phát nguyện đời đời kiếp kiếp được làm bạn của đạo Từ bi. Ráng giữ được tình bạn, vì mất tình bạn là mất tất cả. Người có của nhờ tình bạn, nhưng có của cải rồi lại triệt tiêu bạn thì của cải và địa vị này cũng sẽ mất.

     Mọi người thương mến chúng ta là hạnh phúc nhất. Phật không giữ gì, nhưng từ vua chúa cho đến ngoại đạo đều thương kính Ngài. Ngày nay chúng ta thường công kích ngoại đạo, nhưng Phật chuyển hóa ngoại đạo trở thành quyến thuộc bồ-đề. Thêm một người nghĩ tốt về ta, cho ta thêm hạnh phúc. Ngoại đạo trở về Phật đạo, giúp Phật thành công lớn. Thật vậy, Phật độ ba anh em Ca Diếp thờ thần rắn thì họ dẫn về Phật một ngàn tu sĩ. Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên theo đạo thần lửa cũng dẫn về Phật hai trăm người. Ca Chiên Diên là nhà chiêm tinh cũng theo Phật. Và Phật vào Niết-bàn, nhìn lại quá khứ, Ngài không làm mất lòng ai là hạnh phúc nhất. Người bất hạnh thì chết thấy điều ác hiện ra, như Tần Thủy Hoàng sát phạt tất cả người chống đối cho đến người thân, cuối cùng nhắm mắt lìa đời, chung quanh ông toàn là người thù.

     Phật từ giã cuộc đời ở rừng Sa-la, nhìn lại cuộc đời giáo hóa độ sanh của Ngài đã xây dựng biết bao nhiêu người đắc Thánh quả, Ngài thấy hạnh phúc mà kinh diễn tả là Ngài nằm ở giữa hai cây Sa-la, hoa trời rơi phủ kín Ngài, hay nói cách khác, toàn là việc tốt lành phủ kín Ngài; đó là hạnh phúc mà chỉ có Phật được trọn vẹn.

     Hạnh phúc nhất là tâm chúng ta an lạc, còn vật chất khéo vận dụng thì nó giúp được, không biết thì mất. Mong đạo tràng chúng ta, ai cũng tìm được hạnh phúc trong cử chỉ, lời nói, suy nghĩ và hành động được an lạc, xứng đáng là Phật tử.

Nguồn: http://www.chuahuenghiem.net/bai-giang/phat-phap-va-doi-song/hanh-phuc-tu-nhung-dieu-binh-di/

Thứ Năm, 14 tháng 3, 2013

Nghề Nghiệp Chân Chánh - HT. Thích Trí Quảng


Một số người hiểu lầm nghề nghiệp chân chánh là chánh kiến trong Bát chánh đạo. Trong Bát chánh đạo có chánh nghiệp, chứ không có nghề nghiệp; vì đối với các vị Thánh La hán, không đặt vấn đề nghề nghiệp. Thật vậy, đã xuất gia, Phật quy định Sa môn không được giữ tiền bạc, của báu, không được làm nông nghiệp, không được buôn bán và cũng không được tham gia vào chính sự. Như vậy, Đức Phật đã đặt hàng Thánh La hán nằm ngoài cuộc đời, gọi là "Cái thân ngoại vật”, tức người tu xuất thế, từ cuộc đời lần ra khỏi cuộc đời. Tổ Quy Sơn diễn tả ý này là "Tâm hình dị tục”, tức tâm và hình tướng của người tu khác với người thế gian. Tuy nhiên, nếu chấp chặt như vậy dễ rơi vô cuộc sống thụ động. Vì vậy, trong kinh Pháp Hoa, Phật dạy các vị Thánh La hán phải phát Bồ đề tâm, hành Bồ tát đạo, mới thật là A la hán. Còn tự coi mình là A la hán là rớt vô hàng tăng thượng mạn.

Ở đây, tôi muốn triển khai việc làm của A la hán thật theo kinh Pháp Hoa và của các hành giả tu Pháp Hoa. Các A la hán hành Bồ tát đạo, dấn thân vào đời độ sanh thì trở thành Bồ tát đa dạng, tức cuộc đời này có bao nhiêu hình thái sinh hoạt thì có bấy nhiêu Bồ tát. Vì vậy, trong tầng lớp nào cũng có Bồ tát, cho nên có nghề nghiệp, hay chánh nghiệp. Từ đó, chánh nghiệp của A la hán hành Bồ tát đạo khác với chánh nghiệp của người chưa là A la hán.

A la hán phát Bồ đề tâm dấn thân vào cuộc đời, làm tất cả mọi việc, nhưng tâm các Ngài ở Niết bàn, không vướng bận cuộc đời. Điều này cho chúng ta thấy người thế gian làm việc khác với A la hán làm việc. Người thế gian làm việc thì luôn luôn bị kẹt với công việc; cho nên việc càng lớn và càng nhiều, họ càng bị đau đầu, mất ăn, mất ngủ. Một ngày lo lắng công việc, lao đầu vào cuộc sống xã hội, rất dễ bạc đầu; đó là người thế gian sống ở thế gian và lo việc thế gian.

Nhưng Phật pháp đưa ra mẫu người nhập thế là bắt đầu phát tâm xuất gia tu hạnh xuất thế, ra khỏi cuộc đời; vì nếu còn là chúng sinh ở thế gian sẽ bị nghiệp ràng buộc, thì không được an lạc giải thoát. Bởi vì ta càng làm, thì phiền não dễ phát sinh và mọi người cũng không vui. Người đời nói : "Làm ơn mắc oán”; không làm thì trở thành tiêu cực, còn làm thì người phiền và chúng ta cũng phiền, vì chúng ta chưa đắc đạo, chưa biết cách làm. Vì vậy, Đức Phật thương xót mà xuất hiện trên cuộc đời để dạy chúng ta cách làm giải thoát. Phật dạy rằng trong thế giới này thực không có sinh tử, phiền não, khổ đau; nhưng vì vô minh nghiệp chướng ngăn che, nên thấy có sinh tử. Tất cả mọi người khổ đau vì vô minh hướng dẫn họ làm, nên càng làm càng khổ và người khác cũng bị khổ theo. Vì vậy mà Phật dạy nên làm việc theo trí tuệ chỉ đạo. Phật có trí tuệ chỉ đạo hành động, lời nói và nhận thức. Từ đó, Ngài muốn truyền trao kinh nghiệm này cho chúng ta, là cốt lõi của đạo Phật.

Tất cả mọi người trên cuộc đời bị vô minh ngăn che nhiều kiếp, cho nên muốn nhìn thấy đúng sự thật của cuộc đời thì phải gạn bỏ được vô minh, tức không bị ngũ uẩn ngăn che là ra khỏi Nhà lửa tam giới, ra khỏi phiền não trần lao. Vì vậy nên phải từ bỏ cuộc đời, xuất gia học đạo để không bị ràng buộc bởi thế gian. Riêng tôi nhận thức điều này rất rõ, tôi được như ngày nay là nhờ 60 năm hành đạo, từ bỏ cuộc đời, làm Sa môn sống ngoài tam giới, không bị thế sự ràng buộc quấy rầy, nên không lệ thuộc vào cuộc sống, mới thấy được đạo, giúp cho hành động không sai lầm là được chánh nghiệp. Vì biết, nên không làm; còn không biết, làm việc không đáng làm là tự chuốc họa vào thân, hay Tổ thường quở là nấu cát muốn thành cơm.

Đức Phật đề cao hạnh xuất thế ở Lộc Uyển và các vị Sa môn theo Phật nhờ hạnh này, cuối cùng chứng được Bát chánh đạo, nghĩa là các Ngài là người tốt đứng ngoài cuộc đời, không phải nhập cuộc. Vì đứng ngoài cuộc đời, mới không bị cuộc đời chi phối; đứng ngoài công việc, nên không bị công việc ràng buộc. Tuy nhiên, Phật khuyên các vị Thánh A la hán bước sang giai đoạn hai, nên phát Bồ đề tâm, dấn thân vào cuộc đời để giáo hóa độ sanh, mới được giải thoát thật sự. Còn các vị La hán giải thoát ở giai đoạn tu Thanh văn thừa chỉ là trụ Hóa thành mà thôi. Thật vậy, ở chùa, ở núi tu hành thì không có vấn đề gì; nhưng bước vào cuộc đời, lâm vào tình trạng rối bời, vì không giải quyết được vô số vướng mắc; cho nên giải thoát ở giai đoạn trước chỉ là giải thoát ngoài cuộc.

Qua giai đoạn hai, hành Bồ tát đạo phải giải thoát ngay trong cuộc đời. Mô hình giải thoát này được Phật nói đến trong tất cả kinh Đại thừa, đặc biệt là kinh Hoa Nghiêm, kinh Pháp Hoa, kinh Duy Ma, kinh Thắng Man rất quan trọng để chúng ta nhận ra tinh thần giải thoát, từ đó mới nhận ra được chánh nghiệp thật sự của Đại thừa. Chánh nghiệp của Tiểu thừa là không giữ tiền của, không làm nghề nông, không làm kinh doanh, không tham gia chính trị; nhưng chánh nghiệp của Đại thừa là phải làm vua, làm quan, làm tướng, làm thương gia, v.v...… phải làm đủ mọi việc, nhưng vẫn được giải thoát. Vì vậy, đối với mô hình hành đạo này, chúng ta thường dùng từ "Cư sĩ”, nhưng thực chất của cư sĩ như vậy là Bồ tát:

Cư tài chi sĩ
Cư gia chi sĩ
Tại gia chí Phật đạo giả

Nghĩa là người chí Phật đạo là đã đắc quả A la hán, rồi hiện thân lại cuộc đời này để làm đạo dưới hình thức cư sĩ. Vì vậy, không phải tất cả cư sĩ đều là cư sĩ chí đạo, vì Tổ Quy Sơn dạy rằng : Vọng tình dị tập chí đạo nan văn. Bạt tục siêu quần, vạn trung vô nhất. Nghĩa là người chí đạo thì một vạn người chưa thấy được một người đạt được đỉnh cao trong đạo, thể hiện được nghĩa sâu sắc nhất của Phật pháp. Tôi cũng không dám nhận mình là cư sĩ chí đạo. Duy nhất có cư sĩ Duy Ma là người chí đạo, tức đã đắc đạo với Phật A Súc ở phương Đông, nhưng Ngài hiện thân làm cư sĩ ở thành Tỳ Da Ly.

Như vậy,phải quan sát con người ở hai mặt. Người thì ai cũng như ai, nhưng không ai giống ai, vì mặt bên trong khác nhau, bởi mỗi người có hoàn cảnh riêng, suy nghĩ riêng; lấy hoàn cảnh người này đặt cho người khác không thể đúng. Đọc kinh Thắng Man, chúng ta thấy lúc hoàng hậu Thắng Man đang cúng dường Phật và Thánh chúng ở tịnh xá thì ở triều đình, vua và hai người con của bà bị kẻ soán ngôi giết chết. Xá Lợi Phất thấy bà vẫn điềm tĩnh, nên tội nghiệp và an ủi bà. Bà Thắng Man hỏi Xá Lợi Phất rằng Ngài có chí đạo chưa? Nếu chí đạo thì thật tướng các pháp và nhân quả đã hiển bày rõ ràng, có gì mà phải buồn khổ. Cho nên, nghiệp quả của chồng và con bà đã tới, phải chết như thế, bà biết trước là chí đạo và bà làm theo trí tuệ chỉ đạo. Nếu bà ở nhà thì đã bị chết theo; nếu còn lòng tham thì ôm giữ của cải cũng mất mạng mà chẳng giữ được. Vì vậy, bà đem của cải cúng dường để gieo nhân lành cho đời sau.

Lấy tâm trạng của mình mà khuyên người là sai, đừng thuyết pháp theo cách đó, phải thấy đạo, tức thấy được tâm chúng sinh nghĩ gì, muốn gì, làm được gì thì theo đó mà dạy. Hai mẫu người chí đạo là Thắng Man và Duy Ma để có hai bộ kinh là kinh Duy Ma và kinh Thắng Man.

Thắng Man biết trước việc xảy ra, vì bà là Bồ tát tái sanh. Bồ tát tái sanh vào gia đình nông dân, hay vua chúa, hoặc buôn bán để làm gì, nghĩa là các Ngài trước khi sanh đã có mục tiêu. Còn chúng ta là do nghiệp dẫn đi thọ sanh, cho nên chỗ mình không muốn thọ sanh, nhưng vẫn phải sanh vô. Tất cả chúng sinh phải khổ đau vì đều do nghiệp dẫn thọ sanh. Bồ tát do nguyện, không phải do nghiệp sanh lại cuộc đời. Vì vậy, Bồ tát đã chuẩn bị đầy đủ để đi vào đời, làm những việc mình muốn. Có thể hiểu Bồ tát xuất hiện trên cuộc đời giống như diễn viên trên sân khấu. Diễn viên biết phải khóc, phải cười, phải nói thế nào trên sân khấu. Cũng vậy, Bồ tát khóc hay cười đều là bài thuyết pháp cho cuộc đời. Chứ không phải Thị Kính bị chồng chê, rồi vô chùa ở, tu chơi chơi thành Phật sao được. Đây là diễn xuất của Bồ tát, bên trong là Bồ tát Quan Âm phát Bồ đề tâm, nhưng bên ngoài là Thị Kính bị chồng bỏ.

Chúng ta tìm đạo là tìm trong cuộc đời, trước nhất ta tìm vị chân tu thật học, xa hơn tìm trong xã hội thấy việc làm của họ, thì chúng ta biết nên gần hay nên tránh; không phải bị vô minh thấy thầy tu mới tốt. Người tu hay người đời đều tốt, nghĩa là chánh nghiệp được mở rộng, không còn giới hạn ở hình thức Thanh văn, hay Bồ tát, nhưng là người phát Bồ đề tâm vì nguyện mà sanh lại cuộc đời này để cứu khổ ban vui cho mọi người. Phật nói các Tỳ kheo vào làng khất thực không phải vì ăn; vì ăn là ăn mày thật sự. Vào làng độ người là Sa môn thật. Người khất thực giáo hóa chúng sinh, lòng họ không nghĩ đến miếng ăn, đến quyền lợi, nên hiện tướng thanh thoát, khác với nét mặt, cử chỉ, ngôn ngữ của người vì ăn mà khất thực.

Và mở rộng hơn nữa để chúng ta thấy từ bản thể chơn như vào cuộc đời là Bồ tát. Bồ tát từ quả hướng nhân là Bồ tát từ chơn như xuất hiện trên cuộc đời, điển hình là thái tử Sĩ Đạt Ta đã thành Vô thượng Chánh đẳng giác rồi sanh trên cuộc đời làm thái tử, nhưng bên trong đã là vị Phật. Vì vậy, Đức Phật nói Trời, người, A tu la chỉ nhìn bề ngoài, nên lầm tưởng Ngài là thái tử mới sanh ở cung dòng họ Thích đến cội Bồ đề gần thành Già Da mà thành Chánh giác. Vua Tịnh Phạn cũng thấy như vậy, nên ông thấy Phật rách rưới, mới đưa lông bào cho Ngài mặc, nghĩa là thấy bề ngoài, thấy thái tử là con của ông.
Bồ tát thường hiện thân làm Chuyển luân Thánh vương tu hành để thành Phật, tức ngầm chỉ người thành Phật phải có điều kiện tất yếu là Chuyển luân Thánh vương, nghĩa là người phải có đầy đủ phước đức và trí tuệ, tức đã thực hiện hạnh Bồ tát viên mãn. Khi chưa có những điều kiện này, chúng ta phải hành Bồ tát đạo. Bồ tát và Phật sanh lại là thế, việc tu lâu hay mau không cần thiết đối với các Ngài.

Chúng ta là Bồ tát từ nhân hướng quả, nghĩa là có Phật, Bồ tát ra đời, thuyết pháp, giáo hóa, chúng ta nương theo các Ngàimà phát Bồ đề tâm, từng bước tự sửa mình. Chúng ta coi Bồ tát Quan Âm, Văn Thù, Di Lặc có nét gì để chúng ta bắt chước làm theo là điều quan trọng.

Trong kinh Pháp Hoa, Phật nói rằng những người đã thành tựu quả A la hán rồi phát Bồ đề tâm tu hành thì dễ dàng. Còn chúng ta mới phát tâm, làm sao tu? Chúng ta phải nương Phật và Bồ tát để tu, không tự ý làm được. Thí dụ tôi làm được việc là nhờ nương những bậc Thầy hướng dẫn để làm, tôi không tự ý làm được, vì cái thấy của mình còn sai lầm. Các vị La hán đã thấy đúng, nên các Ngài tự làm được. Chúng ta thấy sai, nên làm phước cả đời mà vẫn tội. Làm đúng là ta giúp một người ăn nên làm ra, họ có thể thay ta làm tốt cho cuộc đời. Còn giúp họ thành người ăn hại thì làm sao tốt được.

Ta nương Phật và Bồ tát xuất hiện trên cuộc đời, các Ngài để lại tấm gương sáng cho chúng ta sửa mình, đó là chánh nghiệp; vì xuất gia là ở ngoài cuộc đời, nhưng dấn thân vào đời, chúng ta phải nương Bồ tát. Nếu tu Pháp Hoa, phải tìm Bồ tát Tùng địa dũng xuất. Các Ngài luôn hiện hữu trên cuộc đời, tìm các Ngài để chúng ta học. Gương các Ngài là nội bí ngoại hiện, bên ngoài hiện phàm phu, nhưng bên trong là Bồ tát. Các Ngài giỏi nhưng không khoe; thấy họ bình thường, không làm, nhưng sao được kính trọng, chúng ta phải suy nghĩ, học theo.
Tôi có hai vị Thầy mà tôi kính trọng. Hòa thượng Thiện Hoa làm việc không mệt mỏi. Ngài nổi danh với phương châm đề ra là nơi nào chúng sinh cần thì ta tới, không ngại gian lao, không từ khó nhọc. Hòa thượng tích cực làm việc, nên mới 54 tuổi đã viên tịch, nhưng làm được nhiều việc quan trọng, để lại cây thang giáo lý cho chúng ta học. Từ thuở tuổi trẻ, tôi nhờ nương vào sự hướng dẫn này của Ngài mà đi lên.

Lớn lên, tôi học với Hòa thượng Trí Tịnh. Ngài không làm gì, chỉ ở trong Thiền thất, quanh năm ngồi Thiền, tụng kinh, niệm Phật, nhưng ai cũng kính trọng Ngài, đó là điều quan trọng mà chúng ta cần suy nghĩ, còn làm việc được kính trọng là điều dễ hiểu. Tôi nhận thấy Hòa thượng là Bồ tát Pháp sư hiện lại, vì trước khi tu, Hòa thượng Vạn Linh đã bảo đại chúng đừng xem thường chú bé này, đời trước đã là Hòa thượng Pháp sư, đời này cũng vậy. Những người khác tu lâu, nhưng Hòa thượng Vạn Linh không coi trọng, mà lại nể Hòa thượng Trí Tịnh. Hòa thượng Tắc Phước nói với tôi rằng Hòa thượng Trí Tịnh có điểm đặc biệt là Ngài đọc kinh nào một lần là nhớ hết. Kinh Pháp Hoa hơn sáu vạn từ mà Ngài nhớ đủ.

Đối với người làm việc tốt, được người kính trọng, chúng ta nên học theo. Đối với người không làm mà được kính trọng, chúng ta phải tìm hiểu, bắt chước theo.

Tìm Bồ tát Tùng địa dũng xuất để học phẩm hạnh của các Ngài. Sáu vạn hằng hà sa Bồ tát Tùng địa dũng xuất mà Bồ tát Di Lặc nói không biết, chưa thấy là mật hạnh, ẩn hạnh. Các Bồ tát này thuần vàng nghĩa là người trọn lành, không tỳ vết, không chỉ trích được. Bồ tát từ nhân hướng quả phải học theo các Bồ tát này. Bồ tát Tùng địa dũng xuất đông, nhưng có bốn vị thượng thủ: Thượng Hạnh, Vô Biên Hạnh, Tịnh Hạnh và An Lập Hạnh. Các Ngài xuất hiện trên cuộc đời, chúng ta có thể học được các việc như sau. Một là nên học những việc khó hiểu, khó làm của Bồ tát Thượng Hạnh; những việc dễ làm, ta nhường cho người khác.

Chúng ta thấy Bồ tát xuất hiện, làm việc khó làm là gì? Làm vua, làm tướng là khó nhất. Làm Thầy tu dễ, thất bại đi tu dễ quá. Vì theo tinh thần Đại thừa, lãnh đạo quần chúng, hướng dẫn quần chúng, làm cho xã hội tốt đẹp là khó. Thật vậy, dấn thân hành Bồ tát đạo, nổi tiếng có Lý Công Uẩn, tức vua Lý Thái Tổ và vua Trần Nhân Tông. Thiền sư Vạn Hạnh đào tạo Lý Công Uẩn, thấy rõ ông có năng lực lãnh đạo quần chúng, đưa đất nước phát triển, chắc chắn đó là việc khó; trong khi tìm ông đạo gõ mõ là việc dễ. Năm 1963, Hòa thượng Từ Nhơn cạo đầu cho 300 người làm sư đi biểu tình, tu kiểu này dễ.
Tìm người làm vua khó vô cùng, làm thay đổi vận mạng, thay đổi thời cuộc để đất nước đi lên không dễ. Vào đời làm vua được, lúc bấy giờ không ai ngoài Lý Công Uẩn, nên ông phải hy sinh, điều này khó. Hoặc đức vua Trần Nhân Tông 16 tuổi đã ăn chay trường, đã tu rồi, nhưng vì phải lãnh đạo nhân dân trong hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, Ngài phải làm vua. Thật sự Ngài không muốn làm vua, vì xem ngai vàng như chiếc giày rách. Đối với ngũ dục thế gian, Ngài xem nhẹ và còn khởi tâm từ, cho phép hàng trăm cung phi được trở về lập gia đình. Vì vậy, thắng giặc xong, Ngài lên núi tu hành, rõ ràng Ngài không màng phú quý lợi danh, đã làm những việc khó làm. Chánh nghiệp của Ngài ở chỗ nào? Vua Trần Nhân Tông cầm quân đánh giặc, bao nhiêu tướng sĩ phải chết, nhưng đây là chánh nghiệp theo Đại thừa. Giết người, nhưng là chánh nghiệp của Bồ tát.

Chúng ta còn nhớ tiền thân Phật Thích Ca đi trên thuyền của thương buôn, Ngài đã giết chết tên cướp biển để cứu sống cả thương thuyền. Trên bước đường hành Bồ tát đạo, Ngài giết người không thù oán do trí tuệ chỉ đạo là chận đứng nghiệp của họ và cứu được 500 người.

Phật giáo Ấn Độ ở thế kỷ 12 bị tiêu diệt, vì bấy giờ Tỳ kheo không có trí tuệ, cố chấp giới luật đến mức cộng cỏ không dám nhổ, sợ tội, thể hiện tinh thần thụ động tuyệt đối, cho nên quân Hồi giáo tràn vô, khum cổ cho chúng chém giết thoải mái.
Vua Trần Nhân Tông ngăn chận việc ác của quân Mông Nguyên và cứu dân Việt Nam, việc làm cao đẹp này lưu danh đến ngày nay, trải qua 700 năm, Phật giáo chúng ta vẫn tôn thờ Ngài là Phật, Nhà nước coi Ngài là vị anh hùng dân tộc. Đây là chánh nghiệp, làm vua, giết người không vì quyền lợi, nhưng để chận đứng hành động ác của giặc. Nếu không có Ngài chỉ đạo, triều đình chia năm xẻ bảy, sẽ dễ dàng mất nước.

Học theo hạnh làm việc khó làm, nhưng Phật tử cần lưu ý không phải việc khó, ai cũng làm được. Tôi nói làm vua khó, quý vị suy nghĩ, định làm vua, nhưng việc này không được, vì mình không có khả năng. Sư Vạn Hạnh không làm vua, nhưng bảo Lý Công Uẩn làm, hoặc Đại Đăng quốc sư bảo Trần Thái Tông nên làm vua. Ta làm chuyện khó của ta, kể cả quét lá, gánh nước, bửa củi cũng khó làm. Điển hình như Huệ Năng gánh nước, bửa củi để làm Tổ cũng là chuyện khó làm, chứ không đơn giản.

Tôi vào Phật học đường Nam Việt, chùa Ấn Quang học, tình nguyện rửa nhà vệ sinh để sau này tôi làm Trưởng ban Hoằng pháp, cũng là việc khó. Những việc khó không ai muốn làm, nhưng chúng ta gánh vác, nên ai cũng thương, vì đây là việc công đức. Người xấu xả rác bừa bãi để mặc cho người khác dọn dẹp. Nhưng người tốt dọn dẹp sạch sẽ cho người khác hưởng là việc khó. Không thích hưởng thành quả của người khác là nét đặc biệt của Bồ tát. Ta làm theo hoàn cảnh của ta, theo năng lực của ta, thậm chí có tâm tốt, thấy cây gai trên đường, nhặt bỏ để người khác không giẫm đạp bị đau, cũng là chánh nghiệp.

Bồ tát làm vì lợi ích chúng sinh, kinh Pháp Hoa gọi là Thượng Hạnh Bồ tát cao quý nhất. Thứ hai, Vô Biên Hạnh là Bồ tát đa năng, hiểu biết rộng càng tốt. Dấn thân vào cuộc đời, ở chỗ nào cũng được, việc nào cũng giải quyết tốt đẹp. Thứ ba, tâm luôn trong sáng, không ganh tỵ, không thù hận, không phiền não là Bồ tát Tịnh Hạnh. Nhờ người không làm, chúng ta mới có dịp làm. Ví dụ tất cả đều là Bồ tát, thấy rác lượm, thì không còn việc này cho chúng ta làm. Thứ tư là Bồ tát An Lập Hạnh luôn làm lợi ích cho chúng sinh với tâm thanh tịnh, từ bi.
Tóm lại, chúng ta học những tấm gương sáng của chư Bồ tát. Các Ngài làm đủ mọi ngành nghề, nhưng đều thành Phật, đó là chánh nghiệp của Bồ tát.

(Bài giảng khóa tu Một ngày an lạc lần thứ 92tại chùa Phổ Quang ngày 13-12 -2009)
Nguồn: http://www.chuahuenghiem.net/thu-vien/sach/khai-thi-2009/nghe-nghiep-chan-chanh/#title