Thứ Ba, 12 tháng 3, 2013

Vượt Qua Mặc Cảm - HT. Thích Trí Quảng


(Bài giảng khóa tu Một ngày an lạc lần thứ 90 tại chùa Phổ Quang ngày 29-11 -2009)
        Trước khi nói về mặc cảm, chúng ta nên hiểu sự khác biệt giữa mặc cảm và trầm cảm. Người bị bệnh trầm cảm thường ít nói và hay buồn rầu đến mức độ nghĩ đến việc tự vẫn. Trong khi người tu ít nói, vì nói nhiều thì phạm lỗi nhiều, không nói thì không có lỗi; chứ không phải bị trầm cảm như người đời hiểu lầm. Tôi lúc mới tu lập hạnh ít nói, vì để tâm suy nghĩ lời Phật dạy và ứng dụng trong cuộc sống. Thật vậy, thái độ yên lặng ít nói để chúng ta nhìn ngược lại bên trong tâm mình, mới có lợi cho việc phát huy đời sống nội tâm, từ đó mới nhận ra được con người thực của mình là gì.

Nếu con người thực của mình là con người tội lỗi, chắc chắn mình sẽ mặc cảm không bằng ai, từ đó thường sanh tính bất cần đời, rất nguy hiểm. Nhưng nếu là Phật tử mà nghĩ mình không bằng ai, thì phải phấn đấu đi lên, tức vượt qua mặc cảm. Đức Phật đã dạy rằng tất cả mọi người đều sẽ thành Phật, người thành trước, người thành sau; cho nên nếu không phấn đấu vượt qua thì muôn đời ở trong sinh tử. Vì vậy, có mặc cảm không bằng ai, chúng ta nỗ lực quyết tâm phải bằng, hay hơn người. Riêng tôi, luôn đặt mục tiêu phải hơn, chứ không bằng, nghĩa là phải thành Phật, đạt được sự hiểu biết ở đỉnh cao nhất.

Bắt đầu không bằng ai, nhưng phấn đấu cho bằng người rồi, thì sử dụng trí tuệ tập thể để đi lên. Trước nhất, phấn đấu học cho bằng người, thì thấy ai cũng là tấm gương cho mình soi bóng học hỏi. Nâng mình cho bằng người, nghĩa là người khác nói, ta nghe được; ta nói, người khác nghe được. Và từ nâng bằng người, chúng ta mới vươn cao hơn, bằng cách tất cả mọi người nói, ta nghe và tổng hợp lại, chúng ta có được nhận thức mới. Đây là điều mà tôi học được ở Phật Di Đà. Ngài tu Bồ tát đạo và tham quan các Tịnh độ của chư Phật mười phương. Theo đó, Ngài học và rút kinh nghiệm của chư Phật, để xây dựng một mô hình thế giới mới của riêng Ngài là Cực Lạc, một mô hình thế giới siêu tuyệt mà mười phương Phật đều tán thán.

Học theo Phật Di Đà chính là thể hiện tinh thần phấn đấu vượt qua mặc cảm để đi lên. Từ đầu, ta cảm giác không bằng người, nên thường sanh ra ý tưởng xấu, hoặc tốt. Nếu sanh ra ý xấu, chúng ta nên điều chỉnh tánh xấu, gọi là tu. Không bằng người mà chúng ta khởi ý niệm xấu ác, ganh ghét, nên có thể nói xấu người khác, hại người khác. Làm như vậy, tội của chúng ta nặng thêm, quả báo lớn hơn nữa và phải khổ thêm. Tôi gặp một số bạn như vậy, thua người nhưng không chịu phấn đấu tu học, lại bực tức, gây gổ, làm đại chúng xáo trộn hơn, là tạo tội thêm nữa.

Mặc cảm là nhận thức tội lỗi vì chúng ta thấy mình không bằng người; nhưng đối với người hiểu đạo, thì không có mặc cảm như vậy. Là đệ tử Phật, chúng ta nhận biết tội lỗi của mình qua bốn câu kệ của kinh Hoa Nghiêm:
Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều bởi vô thỉ tham sân si
Từ thân khẩu ý mà sanh ra
Tất cả con nay xin sám hối.

Chúng ta biết mình không bằng người, vì đã tạo tội lỗi từ vô thỉ kiếp quá khứ, cho nên ngày nay mới có cuộc sống hiện tại là sanh trong gia đình nghèo khó, ở nơi biên địa hạ tiện và có ngoại hình không dễ thương, có ngôn ngữ mà người không chấp nhận được. Những tội lỗi đó, Phật dạy là do thân, khẩu và ý nghiệp của ta tạo nên. Thân chúng ta do sát sanh, hại mạng, nên thường ốm yếu, bệnh hoạn và bị nhiều người ghét thì chúng ta có mặc cảm tội lỗi. Còn ham mê sắc dục, Phật cho biết rằng chúng ta sẽ có thân hình xấu xí, hôi dơ, không thể gần người khác được, nên chúng ta cũng có mặc cảm tội lỗi.

Ý thức lời Phật dạy như vậy, tôi thường xuyên lạy Hồng danh sám hối mỗi ngày. Với mặc cảm tội lỗi rằng mình bệnh hoạn, xấu xí, hôi dơ nên không gần ai được, nhưng Phật có lòng từ bi thương ta, dung ta được. Thật vậy, xưa kia, vua A Xà Thế mắc bệnh nặng và Kỳ Bà đã khuyên ông nên gặp Phật để xin sám hối. Vua nói rằng ông không còn mặt mũi nào nào gặp Thế Tôn, vì đã phạm những tội ác tày trời với Phật. Kỳ Bà nói rằng Phật có tấm lòng bao dung, sẽ tiếp nhận tội lỗi của ông và chuyển hóa những tội lỗi này trở thành công đức để giao lại cho ông.

Tôi siêng năng lạy Phật, sám hối không mệt mỏi, nên nhận thấy rõ có sự chuyển hóa. Từ khi mới phát tâm tu hành, tất cả bệnh hoạn và tội lỗi đã được Phật tiếp nhận, rồi Ngài chuyển hóa những thứ này và cho tôi sự an lạc tốt lành. Tôi có cảm giác tội lỗi ví như dòng nước bẩn được xuyên qua bình nước lọc là Phật. Phật tiếp nhận và biến đổi nước nhơ bẩn thành nước công đức; nhờ vậy, tôi lạy sám hối 108 lạy mà không biết mệt, càng lạy càng khỏe; đó là điều kỳ diệu mà tôi muốn chia sẻ với quý vị.

Lạy Phật mà mệt và chán thì không bao giờ sanh công đức. Trái lại, đối tượng ban đầu chúng ta lạy là tượng Phật, nhưng niềm tin sanh ra rồi thì tượng biến thành Phật. Với độ cảm tâm sâu sắc, chúng ta thấy Phật nhìn mình bằng đôi mắt từ bi và mỉm cười. Lạy Phật như vậy sanh ra công đức, do tâm thành của chúng ta nâng cao thì hảo tướng hiện. Với tôi, chẳng những là tượng Phật thì nghĩ là Phật, mà cả hòn đá, mình cũng có độ cảm là Phật.

Trước kia, có lần Tổng thống Ấn Độ tặng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất một hòn đá bình thường, nhưng nghe nói được lấy từ non Linh Thứu, khiến tôi liền nghĩ đến Linh Thứu sơn và liên tưởng đến Phật đang thuyết kinh Pháp Hoa ở đó; cho nên hòn đá này vụt biến thành Phật trước mắt tôi, niềm tin và căn lành cho chúng ta cái thấy lạ lùng như thế. Còn đối với người không có niềm tin và căn lành thì hòn đá chỉ là hòn đá bình thường thôi.

Vì vậy, lạy Phật bằng tâm thành, tôi có cảm giác Phật ví như bình nước lọc có thể lọc nước dơ bẩn thành trong sạch; nói cách khác, nghiệp của chúng ta được Phật thanh lọc và trả về cho chúng ta tâm thanh tịnh; nhờ đó, mặc cảm tội lỗi của chúng ta được bớt lần và mọi việc thành bình thường. Nghĩa là bấy giờ tôi thấy người lại nhìn mình bình thường; còn trước kia, chúng ta có mặc cảm tội lỗi, nên người thấy chúng ta tội lỗi. Nhưng do công phu tu tập đã chuyển hóa chúng ta thành bình thường, cho nên mặc cảm này cũng tự mất, là nghiệp mất. Và nghiệp mất thì chúng ta tu được. Càng siêng năng tụng niệm kinh và tiếp thu giáo nghĩa Đại thừa, cùng với hình ảnh trang nghiêm của Phật từ từ thâm nhập vào lòng, thì bước thứ hai là Phật từ bên ngoài đã được đưa vào trong tâm ta, kinh từ bên ngoài được đưa vào bên trong, gọi là Tâm kinh, hay Bổn môn Pháp Hoa kinh. Vì vậy mà tôi tụng 28 phẩm kinh Pháp Hoa, nhưng tôi biên soạn 7 phẩm Bổn môn Pháp Hoa kinh là kinh này từ tâm tôi hiện ra và Phật thuyết pháp từ tâm tôi.

Nhờ đem Phật và kinh vào lòng, chẳng những chúng ta hết mặc cảm tội lỗi, mà công đức còn sanh ra; vì tâm chúng ta có kinh và Phật, nên lời nói chúng ta được nhiều người nghe theo. Ý này tôi diễn tả trong Bổn môn Pháp Hoa rằng: Tâm họ là Thiền, thân làm giống Phật, giảng pháp chân thật.

Tâm Thiền, miệng Pháp và thân là Phật, mới được Phật bổ xứ, hay Phật trao y bát. Và được như vậy, chúng ta có cảm giác rất lạ, không bao giờ nghĩ tới cơm ăn, áo mặc, nhà ở, nhưng có nhiều, là vô cầu, hay cung nhiều hơn cầu. Đạt được sở đắc này thể hiện Phật đã xoa đầu và trao y bát cho. Người xuất gia nhưng không được Phật trao y bát, thì cơm không đủ. Thực tế cho thấy có người tu nhưng luôn đói khổ, đó là do tội lỗi mà chiêu cảm quả báo như thế. Chúng ta còn nhớ câu chuyện đệ tử của Xá Lợi Phất đời trước là Pháp sư nổi tiếng, nên thường tự tôn mặc cảm, coi mình trên hết và tạo nhiều tội lỗi. Khi chết, tái sanh lại cũng đi tu, nhưng khất thực luôn bị Phật tử bỏ quên, không cúng dường cho ông, đến mức độ ngày nào Xá Lợi Phất cũng phải chia phần cơm của Ngài cho ông. Người tu không có thế giới tâm linh thì dễ bị đói khổ. Nếu tự mua bình bát, không khó; nhưng bát của Phật trao cho thì mới hiện hảo tướng, người thấy mới nghĩ là Phật, mới cúng dường. Ý thức như vậy, chúng ta hết lòng phụng sự Phật pháp. Phật thọ dụng và xoa đầu bổ xứ, ta mới làm được đạo nghiệp. Các Phật tử cư sĩ phát Bồ đề tâm cũng được Phật bổ xứ.

Phật bổ nhiệm chúng ta đến nơi nào và làm đúng việc đó, sẽ nhận được kết quả tốt. Trong xã hội, tất nhiên việc làm phải đa dạng, mỗi người một việc, nhưng được Phật bổ xứ, hay gọi là Tăng sai, Giáo hội bổ nhiệm thì Tăng sai việc gì, ta làm việc đó, cho nên tuy nhiều việc khó mà ta làm được. Còn ta muốn làm, nhưng là tham vọng thì cái khó này sẽ dẫn đến cái khó khác, khiến cho phiền não nổi dậy, làm ta bất mãn, buồn phiền, rồi phát biểu linh tinh là thần khẩu hại xác phàm.

Được Phật bổ xứ, tự nhiên ta phát tâm làm. Ví dụ khi là Tăng sĩ Phật học đường Nam Việt ở chùa Ấn Quang, trong buổi họp đại chúng, phân công xem ai tình nguyện dọn dẹp nhà vệ sinh. Tôi cảm giác Phật bổ xứ việc này cho mình, nên tôi xin nhận làm công việc thấp nhất này. Tôi thấy sung sướng vì không ai tranh giành việc làm cực khổ mà không có quyền lợi. Thấy như vậy, Phật mới thọ dụng, mới bảo Hòa thượng Thiện Hoa là Đốc giáo Phật học đường đưa tôi lên làm thị giả cho Hòa thượng.

Ta làm đúng chỗ, thì không bị tranh chấp và nếu tâm chúng ta an lạc, nghĩ nhớ đến Phật, công đức ta sanh ra. Vì vậy, khi ta được Phật thọ dụng và trao y bát, thì ngoại đạo, kẻ ác muốn hại, tự chuốc họa tai, đời đời họ không có con mắt. Nghĩa là họ không có mắt trí tuệ, đời đời sanh ra bị đui mù trước chân lý. Mù mắt trần gian như A Na Luật, nhưng sáng mắt huệ. Nhiều Thiền sư nhắm mắt, đóng kín cửa bên ngoài để phát sinh trí tuệ bên trong là vậy.

Người hại, ganh tức, nói xấu thì làm sao đến với chân lý. Đối với người tốt mà tìm cách chê bai, gây khó khăn, nên phải chuốc họa. Xưa kia, Đức Phật xuất hiện trên cuộc đời, bao kẻ ác hại Ngài, họ phải chuốc họa tai, là họ bị mù mắt trí tuệ, mù mắt đạo đức, nên phải trôi lăn trong sinh tử luân hồi đời đời kiếp kiếp, khó thoát ra được.

Mắt huệ mù thì đòi hỏi nhiều, nhưng không được gì, nên càng bực tức, càng gây tội lỗi, lại càng đọa sâu. Họ không bao giờ thấy chân lý, không đến được với đạo. Vì vậy, kết phẩm 28 kinh Pháp Hoa, Phật bảo Phổ Hiền Bồ tát nên nhắc nhở đại chúng phải nhớ tu hành, nếu đủ lòng thành thì được thấy Phật, thế giới chân thật, thường trú Pháp thân.

Tu hành, chúng ta mượn cảnh huyễn, mượn phương tiện là chùa Phổ Quang, nhưng phải thấy được thường trú Pháp thân. Vì chúng ta mù mắt huệ, không thấy, nhưng được Phật xoa đầu và trao y bát thì càng làm Phật sự, trí càng sáng ra và sức khỏe càng nhiều.

Thiết nghĩ ở bước ban đầu, ai cũng có nhiều mặc cảm tội lỗi, nhưng nỗ lực thể hiện lời Phật dạy trong cuộc sống, chúng tôi mong rằng tất cả quý vị đều vượt qua được mặc cảm tội lỗi, gieo trồng được căn lành và nuôi lớn thế giới Phật trong tâm mình để an trú trong hiện đời và đi đến các cõi Tịnh độ theo ý nguyện, sau khi mãn duyên cõi Ta bà này.

Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2013

LỄ QUY Y tại Chùa Huê Nghiêm 2


LỄ QUY Y VÀ THỌ PHÁP Y (ngày 17/03/2013)





Theo sự chỉ đạo của HT. Tôn Sư Thích Trí Quảng, vào ngày 17/03/2013 (nhằm ngày 06/02 Âm lịch) lúc 13g30 tại chùa Huê Nghiêm sẽ có buổi lễ Quy Y và Truyền Pháp Y. 
        13h30 : Lễ Quy Y & Thọ Y
        14h00 : Tụng Kinh 
        15h00 : H.T Thích Trí Quảng Thuyết Pháp 
Kính thông báo đến các Phật tử đồng về tham dự buổi lễ Quy Y và thọ Pháp Y.

Chùa Huê Nghiêm 2: Số 256 đường Lương Định Của, Quận 2, TPHCM

Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2013

Mười Cách Tạo Phước Báu

Hôm nay chúng ta sẽ tự mình nương tựa vào những lời dạy chính yếu của Đức Phật. Đức Phật dạy chúng ta hãy nương tựa vào chính mình bởi vì chúng ta là người tự tạo ra nghiệp tốt và nghiệp xấu, và là người tự gặt hái những kết quả hạnh phúc hoặc đau khổ tương ứng với những việc chúng ta đã làm.
Cơ chế tạo ra nghiệp tốt, xấu, hạnh phúc và đau khổ, thiên đàng và địa ngục nằm trong tâm của chúng ta. Tâm là nhà sáng tạo chính. Vì vậy Đức Phật kết luận rằng tâm làm chủ, dẫn đầu các pháp. Tâm là kẻ thực hiện cũng vừa là kẻ nhận lãnh những hành động do chính mình làm. Tâm là vị chủ nhân ra lệnh cho kẻ đầy tớ của mình là thân nói năng và hành động.
Có ba loại hành động hay nghiệp là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Khi chúng ta tạo thiện nghiệp, hạnh phúc, sự tiến hóa và thiên đàng sẽ là kết quả theo sau. Ngược lại khi chúng ta tạo nghiệp bất thiện, đau khổ, lo lắng, khổ não và sự thoái hóa sẽ là kết quả theo sau. Sau khi chết, tâm thức của chúng ta sẽ tái sanh vào một trong bốn đọa xứ (apayabhumi) chẳng hạn như địa ngục. Vì vậy, Đức Phật luôn khuyên chúng ta phải nương tựa vào chính chúng ta. Chúng ta không nên đợi một người nào đó tạo hạnh phúc và sự thịnh vượng hoặc thiên đàng hoặc Níp-bàn cho chúng ta. Chúng ta phải tự mình tạo thiện nghiệp.
Cầu nguyện trước hình ảnh của Đức Phật hay thỉnh các vị Sư ban phúc lành để cầu xin được thành công và thịnh vượng không phải là Giáo pháp của Đức Phật bởi vì Ngài chỉ có thể chỉ ra con đường đưa đến an vui, hạnh phúc và thịnh vượng và con đường đưa đến đau khổ và sự thoái hóa. Lời dạy của Ngài có thể tóm tắt như sau: Tránh làm điều ác, hãy làm điều lành và giữ tâm luôn trong sạch.
Tạo thiện nghiệp hay công đức chẳng hạn như làm từ thiện giống như gửi tiền vào một ngân hàng. Chúng ta càng gửi tiền nhiều chừng nào thì tiền của chúng ta sẽ được tích lũy nhiều chừng nấy. Tiền lãi cũng tăng theo và chẳng bao lâu sau chúng ta sẽ trở nên giàu có. Ngược lại, nếu chúng ta tạo ác nghiệp, việc này giống như chúng ta mượn tiền ngân hàng, chúng ta phải trả lại cả tiền nợ gốc lẫn lãi. Khoản vay có thể trở thành một gánh nặng cho chúng ta. Những người mắc nợ luôn luôn ở trong tâm trạng lo lắng, bồn chồn, không giống như những người có tiền gửi trong ngân hàng, những người này luôn tươi cười vì tiền của họ luôn luôn tăng trưởng.
Tạo thiện nghiệp cũng tương tự như vậy, nó cho ta sự an vui, làm cho chúng ta cảm thấy hạnh phúc và hài lòng. Nhưng khi chúng ta tạo bất thiện nghiệp, tâm của chúng ta giống như ngồi trên đống lửa. Chúng ta trở nên lo lắng và bất an. Chúng ta ai cũng có thể thấy được điều này bởi vì có thể nó đang xảy ra trong tâm chúng ta ngay tức thời, trong giây phút này đây, chẳng cần đợi đến kiếp sau. Vì vậy, nếu chúng ta muốn được hạnh phúc và thịnh vượng, muốn được ngủ ngon và không chịu đau khổ, chúng ta chỉ nên tạo thiện nghiệp và tránh tạo bất thiện nghiệp.
Đức Phật dạy cho chúng ta mười cách tạo công đức hay thiện nghiệp:
1. Dana: cho ra một cách rộng rãi, bố thí, cúng dường. Cụ thể cúng dường một trong bốn tứ vật dụng đến Tăng đoàn. Cho mà không mong đợi một sự hoàn trả nào từ người nhận.
2. Sīla: Trì giới, giữ gìn sự trong sạch về mặt đạo đức và luân lý ngăn ngừa một cá nhân không đi trệch ra ngoài con đường Bát Chánh Đạo. Giữ giới cũng giúp cá nhân tự kiềm chế những hành động bất thiện.
3. Bhavana: Trau giồi hay phát triển tâm linh, thiền tập
4. Hồi hướng phước báu cho người thân đã qua đời
5. Tùy hỷ phước báu: Hoan hỷ với công đức hay thiện nghiệp do người khác làm
6. Phục vụ người khác
7. Khiêm tốn
8. Chánh kiến
9. Nghe pháp
10. Giảng dạy Giáo pháp
Những gì chúng ta đang làm ngày hôm nay được gọi là dana hay bố thí. Sau khi chúng ta đã cho ra một vật gì đó tốt và quý giá thí dụ như tiền, chúng ta cảm thấy hài lòng vì chúng ta đã chiến thắng được sự ích kỷ, tham lam và keo kiệt của chúng ta. Nếu chúng ta chỉ nghĩ đến chúng ta có nghĩa là chúng ta tham lam và ích kỷ, chúng ta luôn cảm thấy ham muốn và thèm khát. Bằng cách bố thí, chúng ta có thể khắc phục tâm tham và tự làm cho chúng ta hạnh phúc và thỏa mãn.
Trì Giới là tránh không làm hại người khác qua lời nói hoặc hành động như giết hại, trộm cắp, tà hạnh, nói dối và uống các chất say, những việc này có thể làm hại chúng ta và người khác. Giữ Giới giúp chúng ta loại bỏ sự căng thẳng, bồn chồn, lo lắng phát sinh từ các hành vi sai trái. Khi chúng ta nói dối, lừa đảo hoặc trộm cắp, chúng ta lo sẽ bị bắt và bị trừng phạt.
Thiền tập giúp thanh lọc các phiền não hay kisela như ham muốn, tham ái, sân hận và si mê ra khỏi tâm của chúng ta. Những phiền não này làm cho chúng ta phiền muộn và đau khổ. Thiền tập giống như giặt áo quần. Để thiền tập đạt được kết quả tốt, chúng ta hãy noi gương Đức Phật và các đệ tử cao thượng của Ngài, chúng ta cần có tâm định (Samadhi) và trí tuệ (panna) giống như chúng ta cần nước và bột giặt cho việc giặt quần áo.
Nhờ phát triển định và tuệ, Đức Phật cuối cùng đạt được sự Giác ngộ và sau đó trở thành một vị Phật, người đã tự mình khám phá ra con đường giải thoát – Pháp – cho chính mình sau một thời gian dài đã bị thế gian lãng quên. Ngài cũng trở thành một A la hán, bậc trong sạch và đáng cúng dường, bậc mà tâm đã giải thoát khỏi các phiền não (kisela), bậc đã loại bỏ tất cả 10 kiết sử (10 sợi dây)  trói buộc tâm của chúng ta với vòng sinh tử luân hồi, bậc mà trái tim mình không còn bị ràng buộc bởi các lậu hoặc (asava), và bậc sẽ mãi mãi không còn sự tái sinh. Cùng với sự Giải thoát, Đức Phật cũng nhận ra sự hạnh phúc tột cùng, hạnh phúc vượt trội mọi thứ hạnh phúc trên thế gian này như  sự giàu có, địa vị, sự khen ngợi hoặc các dục lạc. Cách duy nhất chúng ta có thể có được hạnh phúc tột cùng này là thông qua việc thực tập để phát triển tâm (bhavana), phát triển định và tuệ cho đến khi tâm nhận ra vimutti hay là sự giải thoát khỏi các hình thức đau khổ (dukkha).
Hồi hướng phước báu đến cho những người đã quá vãng có nghĩa là chia sẻ sự hoan hỷ phát sinh từ việc làm tốt hoặc đúng đắn của chúng ta. Những chúng sanh nhận được sự hồi hướng của chúng ta là những người đã qua đời và tái sinh và cõi giới peta - ngạ quỷ- những chúng sanh thuộc một cảnh giới thấp hơn, đôi lúc có khả năng hiện về với con người. Ngạ quỷ thường được mô tả trong nghệ thuật Phật giáo như là những chúng sinh đói khát với những cái miệng nhỏ như lỗ kim vì vậy chúng không thể nuốt đủ thức ăn để làm dịu cơn đói.
Chúng ta không thể hồi hướng phước báu cho những người đang sống vì họ có thể tự tạo phước báu có thể còn lớn lao hơn những gì chúng ta đang làm cho chính họ. Chúng sanh thuộc cảnh giới ngạ quỷ ngược lại không thể làm được việc này và phải dựa vào những người còn sống làm việc thiện để hồi hướng phước báu cho họ. Những chúng sanh tái sanh vào cõi người và cõi Trời đã tích lũy đủ thiện nghiệp nhằm giữ cho họ được thỏa mãn hoặc hạnh phúc hoặc họ có thể tự mình tạo thêm phước báu nếu họ muốn như vậy. Những chúng sanh tái sanh vào cảnh giới địa ngục cũng không thể nhận được sự hồi hướng phước báu của chúng ta vì họ đã hoàn toàn bị hủy hoại bởi ngọn lửa của sự đau khổ.
Những chúng sanh sống trong cảnh giới ngạ quỷ khao khát chúng ta hồi hướng phước báu cho họ giống như những kẻ ăn xin. Chỉ một chút xíu phước báu mà chúng ta tích lũy được cũng có thể chia cho họ, giống như chúng ta tặng ai một vé xe buýt hay một bữa cơm rẻ tiền. Vậy cũng đủ. Vì vậy, mỗi khi chúng ta làm điều gì đúng đắn hoặc tốt lành như làm từ thiện và muốn làm một điều gì đó cho những người đã quá vãng như các thành viên trong gia đình của chúng ta, bạn bè, chúng ta có thể hồi hướng phước báu này cho họ. Có thể họ đang đợi.
Đừng mong rằng sau khi chúng ta chết, người khác sẽ chia phước báu cho chúng ta. Cho dẫu họ có làm như vậy thì chúng ta cũng được rất ít. Chúng ta có thể tự tích lũy nhiều phước báu hơn cho chúng ta khi chúng ta đang còn sống như những gì chúng ta làm trong ngày hôm nay, đến chùa để cúng dường, giữ Giới và nghe Pháp thoại, làm những việc này, chúng ta sẽ nhận được nhiều phước báu hơn những gì mà chúng sanh ở thế giới ngạ quỷ nhận được. Mỗi khi chúng ta cúng dường, chúng ta nên chia phước đến những người đã quá vãng. Nếu họ đang đợi chúng ta chia phước cho họ, họ sẽ nhận được và chúng ta cũng nhận được nhiều phước báu hơn qua việc chia phước này.
Tùy hỷ công đức là hoan hỷ với những ai đã làm những việc đúng đắn hoặc tốt lành. Khi chúng ta bày tỏ sự cảm kích, chúng ta sẽ cảm thấy hoan hỷ. Hành động đúng đắn hoặc tốt lành không làm hại một ai, nó chỉ đem lại sự lợi lạc. Ngay cả nếu như ta không trực tiếp nhận được lợi lạc từ việc làm này, chúng ta cũng không nên cảm thấy ghen tỵ vì đó là một dạng của phiền não chỉ làm cho chúng ta cảm thấy đau khổ. Ngược lại nếu chúng ta hoan hỷ và bày tỏ sự ngưỡng mộ của chúng ta đối với việc làm tốt đẹp này, chúng ta sẽ hạnh phúc. Hành động đúng đắn hoặc tốt lành giống như sóng trên đại dương cuối cùng rồi sẽ đập vào bờ, không chóng thì chầy lợi lạc cũng sẽ đến với chúng ta. Khi một người trong cộng đồng hành động đúng đắn hoặc tốt lành, toàn thể cộng đồng đó sẽ được lợi lạc vì nó đem lại sự an toàn, yên ổn. Cộng đồng đó sẽ trở thành một cộng đồng tốt và sống an vui. Khi cộng đồng sống trong sự yên ổn, an vui thì chúng ta, những người sống trong cộng đồng đó sẽ được lợi lạc. Vì vậy khi chúng ta nhìn thấy những người có những hành động đúng đắn và tốt lành, chúng ta phải bày tỏ sự ủng hộ và ngưỡng mộ của chúng ta đối với họ.
Phục vụ người khác thì khá rõ rồi, vì vậy không cần phải đi sâu vào chi tiết.
Khiêm tốn là một loại đức hạnh làm chỉ cho người khác thương mến chúng ta, vì nó trái ngược tính kiêu ngạo chỉ đưa đến sự sân hận. Nếu chúng ta vẫn cần sự hổ trợ và thiện chí từ người khác và không muốn bị mọi người xa lánh, chúng ta nên tỏ ra khiêm tốn.
Có chánh kiến là hiểu quy luật thiên nhiên (nhân quả) hay chân lý chi phối sự hiện hữu của chúng ta, như attahi attano nadho, chúng ta là nơi nương tựa của chính chúng ta, vì chúng ta chính là người tự làm cho mình hạnh phúc, buồn, tốt, hoặc xấu. Khi chúng ta hiểu được điều này, chúng ta sẽ biết cách sống sao cho được hạnh phúc và thịnh vượng, vì chúng ta hiểu rằng qua các hành động đúng đắn hoặc tốt lành, chúng ta sẽ được hạnh phúc và nếu chúng ta hành động sai trái hoặc bất thiện, chúng ta sẽ chịu đau khổ.
Nếu chúng ta tin vào quy luật thiên nhiên này và hành động một cách có đạo đức, chúng ta sẽ có được hạnh phúc và kết quả thuận lợi. Nếu chúng ta không tin, nhưng vẫn hành động đạo đức, chúng ta cũng sẽ gặt hái những lợi ích tương tự. Nhưng nếu chúng ta không tin và hành động vô đạo đức,  chúng ta chắc chắn sẽ có một kết quả không thuận lợi. Nếu chúng ta tin, chúng ta chắc chắn sẽ không dám hành động sai trái. Những người tin  sẽ được hưởng lợi từ  quy luật thiên nhiên này trong khi những người không tin sẽ không được hưởng lợi vì họ có khả năng sẽ hành động không đúng đắn.
Bị dẫn dắt bởi các phiền não như giận dữ, tham lam và si mê , họ thường hành động sai trái hoặc xấu ác vì khi họ không tin vào thiên đàng hay địa ngục, không tin vào sự sự tái sinh cũng như không tin vào sự gặt hái những quả của nghiệp của họ trong kiếp sau. Điều này là do những người này có quan điểm sai trái về quy luật thiên nhiên và nó sẽ đẩy họ vào cái vòng bất tận của sự tái sinh và chịu đau khổ bất tận, kết quả từ các hành động bất thiện của họ, do họ không có khả năng loại trừ được sân hận, tham ái và si mê.
Ngược lại, những người có quan điểm đúng về chân lý sẽ biết rằng chính những  nghiệp bất thiện của mình  tạo ra những hậu quả bất lợi mà tự họ sẽ phải gánh chịu. Họ sẽ hành động đúng đắn và tốt lành  bởi vì họ không muốn gặt hái những kết quả không mong muốn. Bằng cách tiếp tục hành động có đạo đức, tâm  của họ sẽ dần dần tiến hóa cho đến khi đạt đến cùng một mức  mà Đức Phật và các đệ tử cao quý của Ngài đã đạt được.
Nghe Pháp là một kinh nghiệm rất lợi lạc  vì Giáo Pháp là giống như ngọn đèn trong bóng tối sẽ xua tan ảo tưởng trong tâm trí của chúng ta đã làm chúng ta mê mờ không thấy được chân lý. Chẳng có lợi ích nào thu được từ việc kết giao với những người lừa dối. Chúng ta thay vào đó nên gắn bó với những người không lừa dối, như Đức Phật và các đệ tử cao quý của Ngài, những người đã thấy được ánh sáng của Giáo pháp và nhờ đó họ biết phân biệt phải trái, tốt xấu. Nếu chúng ta thường xuyên nghe họ giảng dạy Giáo Pháp, chúng ta sẽ có kiến thức, trí tuệ và cái thấy sâu sắc, chúng giúp cho chúng ta chỉ làm những gì là tốt và đúng và do đó sẽ tạo ra kết quả tốt và thuận lợi. Với những lý do này,  nghe nói Pháp là một cách khác để tạo phước báu.
Giảng dạy Giáo Pháp cho người khác là một cách khác nữa để tạo công đức. Nếu chúng ta biết về Giáo pháp, cho dẫu chỉ một chút thôi, chúng ta cũng nên dạy cho người khác. Khi một người nào đó chúng ta biết rơi vào thời kỳ khó khăn và không biết làm thế nào thoát ra khỏi tình trạng khó khăn đó, một vài lời khuyên từ  Giáo pháp có thể vô cùng hữu ích, và có thể tạo cho người đó sức mạnh để thực hiện chúng.
Ngày nay, chúng ta  thiếu Giáo pháp. Khi gặp khó khăn, chúng ta không biết quay vào đâu để tìm sự hỗ trợ và khích lệ  bởi vì chúng ta đã không  đi đến các chùa  để nghe giảng dạy Giáo Pháp, để rèn luyện và  phát triển tâm ý của chúng ta. Vì vậy, khi chúng ta rơi vào khó khăn, chúng ta không biết làm thế nào để đối phó với chúng trong khi thực tế tất cả chúng đều có thể dễ dàng giải quyết việc ấy nếu chúng thể chấp nhận được sự thật rằng bất cứ điều gì nếu sẽ như vậy thì sẽ là như vậy.
Chúng ta phải đối mặt với thực tại. Bất cứ điều gì chúng ta làm, chúng ta sẽ phải trả giá cho nó sớm hay muộn. Nếu chúng ta đã làm một điều gì sai trái, hãy chấp nhận nó và sẵn sàng để đối mặt với những hậu quả. Nếu chúng ta mất mọi thứ, hãy chấp nhận như vậy. Nếu chúng ta nghĩ được như vậy, sẽ  không có ai tự tử.
Nhưng ngày nay,  khi chúng ta  phải đối mặt với kết quả không thuận lợi, chúng ta không biết phải làm gì ngoại trừ suy nghĩ tự hủy hoại mình để thoát khỏi cái kết quả đau khổ, không nhận ra rằng chúng ta chỉ có thể giết chết cơ thể mà thôi. Tâm sẽ tiếp tục đau khổ trong địa ngục. Khi chúng ta được tái sinh trở lại làm một con người , chúng ta sẽ lại tự tử khi chúng ta rơi vào những khó khăn mà chúng ta không thể đối phó với chúng. Đức Phật dạy rằng cứ mỗi lần  tự tử theo sau đó sẽ là 500 vụ tự tử khác trong những kiếp sống tương lai của con người bởi vì nó là thói quen được hình thành.
Cách duy nhất để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn này là nương tựa vào Pháp và sử dụng nó để đối phó với nghịch cảnh của chúng ta . Sử dụng sự kiên nhẫn, nhẫn nại và khoan dung để đối mặt với vấn đề của chúng ta, cho dẫu vấn đề có nghiêm trọng thế nào đi nữa. Chúng ta không được trốn chạy, thậm chí nếu điều đó có nghĩa là vào tù, hoặc bị kết án, chỉ cần nghĩ về nó như là hậu quả của nghiệp bất thiện của chúng ta trong quá khứ. Một khi đã thanh toán xong,  nó sẽ ra đi mãi mãi.
Hầu hết chúng ta có lẽ nghĩ rằng tạo phước báu là chỉ làm việc từ thiện, trong thực tế có những cách khác để có tạo phước báu. Giống như khi ăn, chúng ta không chỉ ăn cơm thôi,  chúng ta còn ăn rau và trái cây. Cơ thể của chúng ta cần năm nhóm thực phẩm để được mạnh mẽ và khỏe mạnh. Tương tự như vậy, tâm của chúng ta chỉ sẽ phát triển nếu chúng ta tu tập mười cách để tạo thiện nghiệp. Vì vậy phận sự của chúng ta là đưa những gì chúng ta nghe ngày hôm nay vào sự thực hành. Sau đó và chỉ sau đó chúng ta mới gặt hái những kết quả thuận lợi đem lại cho chúng ta hạnh phúc và sự thịnh vượng.
Theo: Ten ways to make merits
Người dịch: Pañña Dīpa Tuệ Đăng

Thứ Năm, 7 tháng 3, 2013

Cẩm Nang Tạo Phước Trong Đời Sống Tu Tập Tại Gia - Hòa Thượng Thích Trí Như


Hãy cố gắng niệm Phật.
Đến chùa chỉ nên niệm Phật và cố gắng đừng nói chuyện nhiều. Nếu phải nói chuyện thì chỉ nên nói chuyện Phật Pháp.
Tuyệt đối đừng bao giờ môi giới hay chính mình đi rĩ tai khuyên mọi người góp tài chính cho những mục đích riêng tư ví dụ cho từ thiện hay bất cứ việc gì, ngoại trừ sau khi đã xin phép thầy trụ trì và được chấp thuận. (thông thường các cuộc xin khuyên góp trong chùa nếu có chứng từ đều được chấp thuận) Lẽ tế nhị là mình nên tôn trọng luật lệ của Tam bảo, ba ngôi báo mà mình đã thệ nguyện nương tựa.
Lúc nào cũng phải nên niệm Phật vì đó chính là lẽ sống của con người khi đã nhìn thấy cõi đời hư ảo. Đừng bao giờ bỏ mất thói quen niệm Phật. Hãy niệm trong mọi lúc. Trong khi bạn đang rữa chén, quét nhà, hút bụi, dọn dẹp trong ngoài. Nói chung khi làm công quả trong Chùa mình chỉ nên nhiếp tâm niệm Phật và tránh đừng nghe những người khác nói chuyện tào lao. Khi rời khỏi Chùa bạn nên hồi hướng phước báo trong suốt thời gian bạn ở Chùa làm được bao nhiêu việc lợi ích cho Tam bảo và chúng sanh. Công đức này nên hồi hướng trực tiếp cho tứ thân phụ mẫu, gia đình thứ đến cho nhân loại và thế giới được yên ổn.
Bạn có thể làm đẹp cuộc đời mình từ sự phụng sự cho chúng sanh. Gần gũi là những người bạn đồng đạo đang cùng mình sinh hoạt dưới mái chùa. Vì vậy sự cống hiến công sức tài bảo của bạn để làm đẹp ngôi Tam Bảo tự nhiên có ý nghĩa rất to lớn. Phước báo này chính bạn là tác nhân sẽ thọ hưởng nó từ đời này đến đời khác không bao giờ cùng tận mãi cho đến khi bạn thành Phật.
Bạn hãy từ bỏ thói quen ích kỷ là chỉ làm tốt đẹp cho căn nhà riêng của mình. Căn nhà đẹp mà bạn đang ở chỉ mang lại hạnh phúc cho vài người ví dụ như cho  bạn và gia đình chồng vợ con cái anh em cha mẹ v.v.. Nhưng một ngôi Tam Bảo đẹp sẽ mang lại hạnh phúc cho hàng vạn người vãng lai thăm viếng hay tu học.
Bạn nên đi Chùa sớm hơn giờ sinh hoạt để dễ dàng tham gia việc công quả trước khi vào khóa lễ ví dụ như dọn dẹp ngăn nấp những nơi cần thiết, quét sân Chùa, làm vệ sinh trong ngoài, hay sửa soạn vài việc cho khóa lễ giảng pháp và tụng kinh.
Bạn nên dành nhiều thời gian ở lại Chùa để tham học hay thắc mắc những điều mà bạn đang ưu tư hay đề nghị những  cải tổ cần thiết cho sinh hoạt Phật pháp. 
Đức Phật dạy Tài sản lớn nhất của đời người là Trí Tuệ và Sức khỏe. Vì vậy bạn nên đặt nặng vấn đề phát huy loại tài sản quý báo này. Tiền bạc của cải có thể bị luật vô thường chi phối, nhưng tuyệt đối trí tuệ mà bạn tu được sẽ không bao giờ mất và nó sẽ giúp bạn thành Phật nhanh hơn trong đời vị lai. Đó là lý do tại sao chúng ta nên trân kính những lời dạy của đức Phật và tôn kính những bậc thầy chỉ đạo chân chánh. Sức khỏe tốt là điều kiện cần thiết cho tất cả mọi nhu cầu của cuộc sống. Tuy nhiên làm sao để có sức khỏe tốt là điều chúng ta phải lưu tâm học hỏi và luyện tập. Phật giáo có đề cập đến ba điểm căn bản là Thiền định (hay niệm Phật), Ăn chay và Tập thể dục.
Thiền định hay Niệm Phật sẽ giúp phát huy trí tuệ và giữ cân bằng hệ thống thần kinh giúp chúng ta có sự an lạc.
Ăn chay tạo nhiều phúc báo, tránh những nhân tố đưa đến bệnh tật, chấm dứt được oan báo giúp trường thọ đời này và đời sau. Loài thú ăn uống rất dơ bẫn mang nhiều mầm mống bệnh tật và chúng nó là những chúng sanh tham sống, sợ chết y hệt như con người. Khi bị giết để cung ứng xác chết nó cho chúng ta dùng, nó rất hãi hùng và câm hận kẻ giết. Tư tưởng câm hận này sẽ biến thành độc tố luân lưu trong thịt và máu. Loài người thích ăn xác chết động vật dĩ nhiên là sẽ ăn luôn độc tố thù hận. Đó là lý do tại sao có những con  người hung dữ và nguy hiểm y như loài thú vì đã bị những oan hồn loài thú chiếm đoạt hết tánh linh của họ. Ngoại trừ những bậc tu hành đắc đạo có khả năng chuyễn hóa được oan nghiệp, phần lớn những thường nhân như chúng ta nên ăn chay tốt hơn.
Tập thể dục giúp cân bằng đời sống sinh lý và vật lý trong thân thể. Những cử động của thể dục có năng lực tạo ra sức đề kháng chống lại những suy yếu của cơ thể.
Thực tập ba điều căn bản này chúng ta sẽ có một sức khỏe tốt. Sức khỏe này sẽ trợ duyên cho việc học hỏi phát huy trí tuệ. Đó là chúng ta đã có trong tay loại tài sản quý báo nhất.
Thế giới này không thể hy vọng một nền hòa bình chân chánh. Vì lẽ con người ngày nay đang ở vào giai đoạn chánh pháp cuối cùng. Trong tâm của con người hiện tại phần lớn chỉ có oán ghét thù hận, ích kỷ và tham lam, lường gạt, dối trá, độc ác, thị phi nhân ngã.v.v.. Muốn trừ diệt những điều này không phải sức phàm phu có thể làm được, cũng không phải dễ dàng xử dụng các pháp môn tu tập để hóa giải nó. Chúng ta phải nhờ đến tha lực của Phật A Di Đà bằng cách niệm hồng danh của ngài. Phải nên cầu sanh về thế giới của Ngài tức cảnh giới Tịnh độ ở Tây phương Cực Lạc. Nếu không được tái sanh về thế giới Tay phương Cực lạc thì chúng ta sẽ phải chịu đựng sự thống khổ vô biên trong các đọa xứ. Vì lẽ dòng thác của luân hồi sinh tử không gián đoạn này sẽ lôi chúng ta đi mãi không bao giờ cùng tận cho đến ngày nào chúng ta biết quay đầu niệm Phật. Niệm Phật chính là niệm tự tánh của mình, là thể tánh sáng suốt ở trong tâm mỗi người. Vô minh là sự kiện che đậy thể tánh trong sáng trên khiến cho mình bị chìm đắm trong sự lầm lẫn, kém hiểu biết.
Vô minh là nguốn gốc chi phối tất cả mọi sự việc. Niết bàn tượng trưng cho trí tuệ, là nơi chấm dứt mọi sự đau khổ hiện hữu. Vì vậy chúng ta phải hết sức nổ lực chấm dứt vô minh, thực hiện niết bàn.
Con người sẽ đi đâu để tìm hạnh phúc hay sự an lạc của tâm? Bạn có thể chọn lựa nơi đến của mình. Dù bạn đang sinh hoạt ở bất cứ một đạo tràng nào, điểm quan trọng và cần thiết vẫn là mục đích đạt được sự giác ngộ cuộc đời. Bạn không nên tìm sự vui thú giả tạm ở đó. Vì như thế chỉ uổng công và mất thời giờ khi cuộc đời quá ngắn ngủi!!. Đừng bao giờ nói đạo tràng này tốt và đạo tràng kia không tốt. Thực sự chỉ có đạo tràng dạy chánh pháp giải thoát và đạo tràng giả hình (hình thức ngoại đạo) không dạy chánh pháp giải thoát. Bạn có quyền chọn lựa. và sau khi đã chọn lựa rồi thì hãy nhất tâm tu tập và ủng hộ nơi mình đã chọn lựa cũng là ủng hộ chánh Pháp của đức Phật.
Bạn sẽ đi đâu để tìm sự giải thoát khi bạn đã nhận thức cuộc đời hư ảo? Có nhiều người quan niệm rằng tôi sẽ đi nhiều chỗ tìm những đạo tràng khác nhau để tu học kiến thức Phật pháp. Bạn lầm lẫn khi cho rằng kiến thức Phật Pháp (hay còn gọi là sự hiểu biết thế gian) nó sẽ giúp mình giải thoát. Một ngàn lần không phải như thế. Dù bạn là một nhà sư tài giỏi, một học giả Phật giáo uyên thâm nhất ngồi trên pháp tòa giảng giải đạo lý đến mọi người cũng chưa chắc điều đó phản ảnh được những giá trị tâm linh thực chứng. Nhưng một người tu hành đạm bạc với một pháp môn tu tập giản dị là niệm Phật, người đó có thể bảo đảm được sự thực chứng tâm linh cao quý. Xưa nay đã từng có những nhà sư có tài năng biện thuyết với học vị tiến sĩ Phật học đi khắp nơi giảng nói đạo lý, nhưng tiếc thay họ chỉ có kiến thức để thuyết thôi chứ chưa chứng  đắc một tí gì cho sự nghiệp giải thoát tâm linh. Bạn có khả năng như thế chưa?. Cách tốt nhất nên tập ngồi yên như đức Phật. Hình tượng đức Phật thờ phụng nơi các đạo tràng chùa viện đã từng dạy cho chúng ta bài học giác ngộ rằng: “hãy ngồi yên lặng và tỉnh mặc nhin xuống cuộc đời nhân thế đầy đau khổ, chúng ta sẽ phát sinh được trí huệ để hiểu mình cần phải làm gì cho cuộc sống mộng mị này”. Nều một người đi nhiều nơi để tìm học Phật pháp với quyết tâm cầu giải thoát thì điều này trở nên rất quý báo. Tuy nhiên rất hiếm có người làm được như vậy. Ngoài điều này ra, những kẻ thích đi nơi này nơi nọ gọi là để học hỏi Phật pháp thực sự là họ đang lừa dối họ và lừa dối cả những người khác. Họ đi như thế là để tìm vui, thõa mãn những vọng tưởng nhất thời. Và điểm đúng nhất là họ chưa có đủ phước báo để nhìn trực diện vào mục tiêu giải thoát ra khỏi vòng sinh tử. Nếu muốn đi nhiều nơi để tìm cầu thiện hữu trí thức chỉ dạy Phật pháp thì hãy nên đi với tâm nguyện và tư cách của Thiện tài Đồng tử trong kinh Hoa Nghiêm. Nói tóm lại Phật giáo là pháp để tu hành chuyển hóa nội tâm  chứ không phải là những món đồ trang sức bằng một lô kiền thức dành để biện thuyết hay khoe khoan. Thử hỏi nơi một đạo tràng quen thuộc ở địa phương, mình còn chưa làm đủ bổn phận và trách vụ của người phật tử tại gia cộng thêm cái điên đảo của thị phi nhân ngã và hỷ nộ ái ố! thì mình đi đâu để tu hành giải thoát? Ngài Lục Tổ Huệ Năng từng dạy rằng: “người ở phương Đông tạo tội cầu sanh về phương Tây, người ở phương Tây tạo tội cầu sanh về đâu?. Ý của lời dạy này là khuyên chúng sanh hãy tự chuyễn hóa tâm niệm của mình tại nơi nào chúng ta đang sinh sống đừng cầu mong đến một chỗ nào đó để tìm sự yên tỉnh vì mấu chốt là ở tự tâm chớ không phải ở nơi chốn. Tâm tịnh thì cảnh giới tịnh. Đây là lời Phật tổ đã dạy. Tâm mình từ bi đó là Quan Thế Âm, Tâm nhân ngã là núi tu di, Tâm tà vậy là nước biển, Phiền não là sóng trào Tâm độc hại là rồng dữ, Dối trá là ma quỷ, Tâm điên đảo là cá trạch, Tâm tham lam, sân giận là địa ngục, ngu si là súc sanh. Trừ bỏ những tâm này thì cảnh Tây phương liền hiện đến, núi tu di sẽ sụp đỗ tan tành, nước biển được cạn khô, sóng biển lặng êm, rồng dữ sẽ không quấy phá. Tu như vậy thì tánh mình sẽ sáng suốt trong ngoài đều tỏ rõ đâu cần phải cầu về Tây phương, hay đi đến chỗ nào để được kết quả như thế.? Người mê bổn tâm thì sống với vọng tưởng điên đảo nay chạy chỗ này mai chạy chỗ nọ rốt cuộc chẳng được gì ngoài một mớ phiền não nhiễu loạn. Người ngộ bổn tâm thì biết Phật ở nơi tâm mình liền thấy ngay bổn tánh phát nguyện tu hành lợi ích cho vô lượng chúng sanh. Bởi vậy Phật thường dạy: “Phật và chúng sanh chỉ khác nhau ở chỗ mê và ngộ.” Nếu ngộ bổn tâm thấu triệt bổn tánh thì lập tức thành Phật.
Lúc nào cũng phải ghi nhớ Tâm là suối nguồn của tội ác và thân này là nơi chất chứa biết bao nhiểu sự khổ não. Chúng ta sinh ra cuộc đời này là thọ nhận hai sự kiện đau khổ nhất. Thứ nhất là thọ nhận một cuộc đời từ lúc mới sinh cho đến già chết đầy những biến cố đau thương hay hạnh phúc giả hình lẫn lộn. Thứ hai là thọ nhận một cái thân thể bất toàn đầy mầm móng của bệnh tật và nhiều sự rắc rối khác đến từ cái thân này. Bởi vậy chúng ta phải nên giải quyết hai điều này trước khi muốn làm một cái gì khác. Đó là cách thức làm sao có một sức khỏe tốt và một tâm linh sáng suốt như đã nói trên. Nếu chúng ta chưa từng biết qua về đạo lý  của Phật giáo thì hãy cố gắng tìm đến nơi những đạo tràng để tu tập. Nếu chúng ta may mắn hiểu giá trị của đời sống tâm linh qua lăng  kính Phật giáo thì hãy cố gắng xoay chuyễn tâm niệm và quan điểm của mình làm sao cho phù hợp với chánh pháp giải thoát của đức Phật. Đó là những gì cần thiết phải làm trong cuộc đời này.
Đức Phật giáng sinh ở cõi ta bà này mục đích là chỉ cho chúng sanh thấy chỗ mê lầm của mình đồng thời hướng dẫn chúng sanh tìm kiếm được cái thấy biết như thật của Phật tổ. Đó là lý do chúng ta nên phải học cái tri kiến của Như Lai. Đức Phật không hề hứa cứu rỗi một ai hay giúp tiêu trừ nghiệp chướng của ai. Ngài hiện thân  tu hành thực chứng chân lý và chỉ cho chúng sanh con đường tốt nhất để có thể đạt được hạnh phúc chân thật ở đời này và đời sau. Điều mà chúng sanh không biết cứ mãi đi tìm hạnh phúc giả hình, rốt cuộc chỉ thấy toàn là sự đau đớn phiền lụy. Hạnh phúc này không cần  yếu tố tiền bạc hay mái ấm gia đình.
Vì vậy chúng ta phải nên dừng lại ngay bay giờ. Chỉ có cách đứng lại thì chúng ta mới khống chế được dòng thác sanh tử đang cuốn trôi con người đi đến những nơi vô định tối tăm. Trước một dòng thác, anh đi tới cũng chết mà đi lui cũng chết. Anh phải đứng lại và bơi ngang vào bờ thì anh sẽ sống. Anh phải hiểu những điều này thì anh sẽ đạt được giải thoát.

Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013

Phước Báu - Cư Sĩ Chính Trực



Những "phước báu" chúng ta đã hưởng, đang hưởng, và sẽ hưởng, chính do chúng ta đã tạo trong nhiều kiếp trước và ngay trong kiếp này. "Mình làm mình chịu, mình làm mình hưởng" mới là lẽ công bằng tuyệt đối vậy.
Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta thường nghe nói: Người này "có phước" quá, cho nên mới được vừa giàu sang, vừa học giỏi, vừa đẹp đẽ, vừa mạnh khỏe, vừa may mắn, cầu con được con, cầu của được của, vạn sự như ý, tùy tâm mãn nguyện. Hoặc cũng có khi chúng ta nghe nói: Người này "bạc phước" quá, cho nên làm chuyện gì cũng thua lỗ, tính toán việc gì cũng hỏng, muốn gì cũng không nên, cầu gì cũng chẳng được, tai họa xảy ra tới tấp, gặp xui xẻo liên miên! Khi được may mắn, khi được sung sướng, khi được những sự như ý, khi được tất cả những điều gọi là "có phước", người đời thường nghĩ rằng, cho rằng: mình có phước báu như vậy là do trời thương, trời ban cho mình! Những người đó không chịu tìm hiểu thêm: Tại sao ông trời lại thương mình và ban cho mình phước báu như vậy, mà không ban cho biết bao nhiêu người khác? Như vậy có phải là bất công chăng? Như vậy có đúng chăng? Tại sao con người lại có ý nghĩ như vậy?

Sở dĩ con người có ý nghĩ như vậy là do tâm ích kỷ nhiều đời, do tập khí tham lam bỏn sẻn, do tánh ganh tị đố kỵ mà ra. Con người khi được sung sướng, thì mặc kệ người khác ra sao, chẳng bận tâm đoái hoài, đó là tâm ích kỷ. Con người khi được toại nguyện, muốn gì được nấy, thì mặc kệ người khác ra sao, thậm chí trong lòng còn chẳng muốn ai khác được như vậy, đó là tập khí tham lam bỏn sẻn. Con người khi được thành công thắng lợi, thì mặc kệ người khác ra sao, chẳng muốn ai khác bằng mình hay hơn mình, đó là tánh ganh tị đố kỵ vậy.

Thực ra, không có ông trời, thượng đế, hay đấng tạo hóa nào làm những chuyện bất công, thiên vị như vậy. Những "phước báu" chúng ta đã hưởng, đang hưởng, và sẽ hưởng, chính do chúng ta đã tạo trong nhiều kiếp trước và ngay trong kiếp này. "Mình làm mình chịu, mình làm mình hưởng" mới là lẽ công bằng tuyệt đối vậy. Cũng không ít người thắc mắc: Làm sao biết mình "có phước" hay không? Làm sao để tạo phước? Đồng thời chúng ta cũng cần nên biết: thế nào là phước hữu lậu và thế nào là phước vô lậu? Và khi làm phước giúp đỡ ai điều gì, mình nên nguyện như thế nào?
* * *
Trên thế gian này, nếu ngước nhìn lên chúng ta sẽ thấy không biết bao nhiêu người giàu sang hơn mình, học thức hơn mình, khỏe mạnh hơn mình, sung sướng hơn mình, đẹp đẽ hơn mình, địa vị hơn mình, quyền thế hơn mình, may mắn hơn mình, nhàn nhã hơn mình, bình yên hơn mình, thông minh hơn mình, sáng suốt hơn mình, nhứt là không biết bao nhiêu người tu tập giác ngộ hơn mình, được an lạc và hạnh phúc hơn mình. Những người như vậy chính là những người "có phước" hơn mình. Trái lại, khi nhìn xuống chúng ta sẽ thấy không biết bao nhiêu người nghèo hèn hơn mình, dốt nát hơn mình, yếu đuối hơn mình, khổ sở hơn mình, xấu xí hơn mình, thấp kém hơn mình, cô thế hơn mình, xui xẻo hơn mình, cực khổ hơn mình, hoạn nạn hơn mình, đần độn hơn mình, tối tăm hơn mình, nhứt là không biết bao nhiêu người không được sống an lạc và hạnh phúc như mình. Những người như vậy chính là những người "bạc phước" hơn mình.

Như vậy, rõ ràng chúng ta được gọi là "có phước", hay đang thọ hưởng "phước báo", nếu như chúng ta có đủ tay chân, mắt mũi vẹn toàn, cơm ăn áo mặc, khỏe mạnh ít đau, sống lâu trăm tuổi, tâm trí bình thường, gia đình hạnh phúc, cuộc sống tương đối đầy đủ, cuộc đời tương đối bình yên, không gặp hoạn nạn, không gặp hiểm nguy, không gặp tai biến, không gặp chiến tranh, không gặp đói khát, không gặp kẻ thù, không gặp thiên tai, hỏa hoạn động đất, bão lụt cuồng phong. Khi nào bị đau mắt, không còn nhìn thấy được gì nữa cả, chúng ta mới thấy giá trị của đôi mắt, giá trị của thị giác, mà hằng ngày chúng ta không lưu tâm. Đến khi gặp thầy gặp thuốc, được chữa lành bệnh, đôi mắt trở lại như xưa, chúng ta mới thấy là mình đang "có phước"! Hoặc khi nào bị bệnh bại xụi cả hai chân, không còn đi đứng được bình thường, phải dùng xe lăn. Đến khi khỏi bệnh, được bình phục như xưa, chúng ta mới thấy là mình đang "có phước"!

Thí dụ như trên một chuyến máy bay, một chuyến tàu thủy hay một chuyến xe lửa gặp tai nạn, hằng trăm người thương tích tử vong, những người được sống sót chính là những người "đại phước" vậy. Họ là những người theo đủ mọi tôn giáo, thuộc đủ mọi sắc dân, thuộc đủ mọi thành phần trong xã hội, gồm đủ mọi lứa tuổi, nhưng điểm quan trọng là: chính họ đã "tu nhơn tích phước" nhiều đời nhiều kiếp trước, mới được sống còn như vậy, chứ không phải do họ cầu nguyện van xin thánh thần thiên địa gì cả, dù là chí thành và khẩn thiết lắm, trong lúc ngộ nạn, mà được đâu! Chúng ta thử suy nghĩ: trong khi lâm nạn, người thì cầu Đức Mẹ cứu giúp, người thì cầu Bồ Tát Quán Âm cứu tai, cứu khổ, cứu nạn. Vậy, khi cả hai người cùng thoát được nạn, vị nào thực sự đã tế độ họ?

Thực sự chính "phước báo" của mỗi người đã cứu chính họ mà thôi. Người có "phước báo" nhiều hơn, thoát nạn một cách an ổn hơn. Người có "phước báo" ít hơn, thoát nạn với một chút sây sát. Người hết phước báo, không phước báo, thì đã vong mạng!

Thậm chí trong số những người tử vong trong các tai nạn, nhiều trường hợp có cả các chức sắc thuộc các tôn giáo, có cả những người đã từng đại diện thượng đế tha tội cho nhiều người khác! Còn chính họ có tội nghiệp, đến lúc phải trả, vẫn phải đền trả quả báo, nghiệp báo như mọi người khác vậy! Chúng ta đọc báo cũng thấy có những chuyến hành hương cầu nguyện của các tôn giáo, bị lật xe trên đường đi hoặc trên đường về, gặp nạn hỏa hoạn tại thánh địa, tại khu vực hành lễ, khiến cho hàng trăm người, hàng ngàn người tử vong thương tích. Điều này giúp cho chúng ta nhận định rất rõ ràng rằng: con người tạo nghiệp báo, dù vô tình hay cố ý, cho đến lúc quả báo chín muồi, lại không có phước báo che chở, thì cầu nguyện van xin cũng chẳng ích lợi gì, chẳng có hiệu quả gì.

Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy: "Dù lên non, xuống biển, vào hang, nghiệp báo vẫn theo con người như hình với bóng, không ai có thể tránh được".

Nghĩa là nếu như con người không biết tu nhơn tích phước, chỉ lo tạo tội tạo nghiệp, trong cuộc sống đấu tranh giành giựt hằng ngày, cho đến khi quả báo thuần thục, không ai có thể tránh được, dù cho người đó là bất cứ ai trong thế gian này, không phân biệt vua quan, chức quyền hay thường dân, giàu sang hay nghèo hèn, học thức hay bình dân, nam phụ lão ấu, tín đồ hay chức sắc!

Có ông Liêm Sứ ở Hồng Châu, đến hỏi Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất: Uống rượu ăn thịt là nên hay không nên? Mã Tổ Đạo Nhất đáp: Uống rượu ăn thịt là cái "lộc" của ngài. Không uống rượu ăn thịt là cái "phước" của ngài! Có phước mới hưởng lộc. Có phước mới trường thọ. Không phước sao được hưởng lộc, sao được trường thọ? Như vậy, chúng ta đã tạm hiểu thế nào là "có phước". Bây giờ chúng ta thử tìm hiểu vấn đề: trong cuộc sống hằng ngày, những phương cách nào, những pháp môn nào, những việc làm nào, những hành động nào, những lời nói nào, hay những ý nghĩ nào có thể tạo "phước báu", công năng và ích lợi của "phước báu" như thế nào?

1) Trước tiên là Bố Thí. Hạnh bố thí là nền tảng của tất cả các hạnh lành, là căn bản của việc thực hành giáo pháp, luôn luôn được đề cập đến trong Phật giáo. Bản chất của con người thế gian là luôn luôn muốn có, muốn thêm, muốn nữa, không bao giờ thấy đủ, không bao giờ thỏa mãn với những gì mình đang có. Cho nên, nếu được lên thiên đàng, nếu được về cõi tây phương, mà vẫn còn giữ lòng tham như vậy, gọi là "đới nghiệp vãng sanh", thì con người vẫn thấy khổ đau như hiện đời vậy thôi. Muốn được an lạc hạnh phúc hiện đời, ngay tại thế giới ta bà này, hãy vui thích với những gì mình đang có, bởi vì mình không thể có những gì mình thích. Mong cầu nhiều, mơ ước nhiều, chỉ thêm nhiều đau khổ mà thôi. Thực là đơn giản!

Đạo Phật dạy hạnh bố thí để giúp con người dẹp lòng tham lam ham muốn, ích kỷ hẹp hòi, gồm có tham tiền tài, tham sắc đẹp, tham danh vọng, ham ăn ham uống, ham ngủ ham nghỉ. Đạo Phật dạy hạnh bố thí để đem lại an lạc và hạnh phúc cho người đời. Tại sao vậy? Bởi vì với lòng tham ngũ dục: tài, sắc, danh, thực, thùy, nói trên, con người trên thế gian phải đấu tranh, giành giựt, phải dùng mọi thủ đoạn để thỏa mãn, bất chấp sự đau khổ của kẻ khác, bất chấp sự an nguy của chính bản thân, với bất cứ giá nào, cũng phải đoạt cho bằng được sự như ý! Không được thỏa mãn, con người dễ nổi lòng sân hận, thù đời ghét người, oán trời trách đất! Hạnh bố thí giúp con người hiểu được ít nhiều sự an lành thiết thực của người và của chính mình như thế nào. Cái gì mình tiêu xài thì đã qua mất rồi. Cái gì mình đang có, chưa chắc giữ được lâu dài, nhưng chắc chắn rằng sẽ để lại, khi qua đời. Chỉ có những gì mình đã bố thí, đã cho ra, mới thực sự là "của mình", mới thực sự là "phước báu", và sẽ đến với mình qua các dạng: bình yên may mắn, tai qua nạn khỏi, cầu gì được nấy, trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.

Trong khi thực hành hạnh bố thí, chúng ta đừng nên thắc mắc: nếu mình quyên góp tiền bạc cho một người hay một tổ chức nào đó, để làm việc từ thiện, nhưng họ không làm đúng như lời họ nói, thậm chí họ còn lợi dụng lòng tốt của nhiều người để thủ lợi, làm việc sai trái, thì mình có được "phước báu" hay không? Tại sao vậy? Bởi vì khi chúng ta tự nguyện, phát tâm tùy hỷ, đóng góp tịnh tài cho một việc từ thiện, cứu người giúp đời, với tâm vị tha bất vị kỷ, vì người quên mình, vì muốn giúp người, không vì phước báu cho mình, thì chúng ta đã có "phước báu" ngay tại chỗ đó rồi, ngay từ lúc phát tâm tùy hỷ như vậy đó. Còn chuyện người đó, chùa đó, tổ chức đó, có làm đúng hay không, tội nghiệp họ tạo, quả báo họ sẽ tự nhận. Nhân nào quả nấy. Chúng ta không cần phải bận tâm!

Chúng ta cũng được hiểu thế nào là "phước điền" cao thượng nhứt, đó là những "ruộng phước" đem lại nhiều "phước báu" nhứt, khi hành động tạo phước của chúng ta hướng đến. Cũng ví như người nông dân hiểu biết đám ruộng nào phì nhiêu, trồng trọt sẽ cho năng suất cao nhứt. Phước điền cao thượng đó chính là bốn ơn nặng, hay tứ trọng ân, gồm có: ơn cha mẹ, ơn thầy bạn, ơn xã hội, ơn tam bảo. Hạnh bố thí dù là tài thí, pháp thí hay vô úy thí, đều đem lại "phước báu" vô lượng vô biên, nếu như mình làm hạnh bố thí với thiện tâm, trực tâm và bồ đề tâm. Nghĩa là tạo được bao nhiêu "phước báu" do hạnh bố thí, chúng ta đều nên phát tâm "hồi hướng" cho toàn thể chúng sanh trong pháp giới đồng thọ hưởng. Có như thế, quả báo phước đức sau này, còn gọi là phước báo, mới thực sự to lớn. Tại sao vậy? Bởi vì không giữ riêng cho mình, dù là "phước báu" do chính mình tạo nên, có nghĩa là mình đã diệt được lòng tham. Khi lòng tham đã diệt được, sự giải thoát mới hoàn toàn, phước báo mới vô lượng vô biên vậy.

2) Thứ hai là Trì Giới. Trì giới là nghiêm chỉnh ăn ở theo đúng giới luật của Phật Tử, dù là cư sĩ tại gia, hay tu sĩ xuất gia. Nhờ đó, trong cuộc sống, chúng ta không làm tổn nhơn, hại vật, trong khi tạo ích lợi cho mình. Đó là cách tạo "phước báu" vô cùng vô tận, không thể nghĩ bàn. Thí dụ như chúng ta trì giới không nói dối, không nói lời xuyên tạc, thêm bớt, vu cáo, để buộc tội, vu oan cho kẻ khác phải chịu nhiều đau khổ, cho thỏa mãn lòng căm tức của chúng ta đối với người đó, dù cho đó là kẻ thù, hay kẻ mình không ưa cũng vậy. Thí dụ như người tu sĩ Phật giáo cố gắng giữ gìn giới hạnh trong sạch, cuộc sống thanh tịnh, chăm lo tu học, không tham gia hoạt động thế sự, không lo chuyện thế gian, không ham danh văn sĩ, thi sĩ, tiến sĩ gì gì đó với đời, thì vị tu sĩ đó đem lại biết bao nhiêu "phước báu" cho chính bản thân, cho đồng bào Phật Tử và cho đạo pháp.

Được như vậy, không cần đợi đến kiếp mai sau, mà ngay hiện tại, trên cuộc đời này, ở tại nơi đây, trong kiếp sống này, chúng ta có thể thọ hưởng "phước báu" của một nếp sống giới hạnh. Lợi ích của giới đức phát sanh ngay trong hiện tại. Hiện tại rất quan trọng đối với người biết sống trong tỉnh thức, biết quán sát nội tâm, biết giữ gìn giới hạnh. Quá khứ đã trôi qua, nhớ nhung tiếc nuối chỉ phí phạm thời giờ, chẳng những điên rồ, mà đôi khi còn tạo nghiệp xấu, vì những chuyện tức giận, thù hận đã qua. Trong khi đó, tương lai chỉ là viễn ảnh mơ hồ, không có gì cố định, không có gì chắc chắn. Người nào hẹn đến khi có tuổi rồi, mới cạo đầu vào chùa bắt đầu tu, cũng là người đang sống trong mơ, đang trong cơn mê. Tại sao vậy? Bởi vì có ai biết được chắc chắn mình sống đến bao lâu? Trong khi đó, chúng ta có thể tạo "phước báu" bằng cách tu tâm dưỡng tánh, ngay hiện tại, trong cuộc sống hằng ngày, đừng đợi đến ngày nào cả. Tu tâm dưỡng tánh được ngày nào, chúng ta hưởng "phước báu" ngay ngày đó, thì tại sao phải hẹn? Vã lại tu tâm dường tánh đâu phải là việc dành riêng cho các tu sĩ, hoặc đâu phải cạo đầu vào chùa mới gọi là tu! Các bậc tôn túc thường nhắc nhở chúng ta: "tu mau kẻo trễ" và "tu trong mọi hoàn cảnh", chính là nghĩa đó vậy.

Chẳng hạn như trước đây, chúng ta thích bàn chuyện thị phi, phải quấy, tốt xấu, thích xen vào chuyện của thiên hạ thế nhân, cho nên lắm khi gặp rắc rối, tranh cãi, đôi co, mích lòng, có khi dẫn tới chuyện kiện tụng lôi thôi. Bây giờ chúng ta hiểu được giáo lý đạo Phật, biết rằng tu tâm dưỡng tánh đem lại nhiều "phước báu" hiện đời, có thể thực hành trong mọi hoàn cảnh, chúng ta quyết tâm dừng ngay, chừa bỏ tất cả, thì cuộc sống sẽ an lạc và hạnh phúc, không còn phiền não và khổ đau nữa. Giới luật ví như hai đường sắt của một tuyến xe lửa. Chiếc xe lửa nào, chạy đúng đường sắt, sẽ chạy ngon lành, đến nơi đến chốn, bình yên vô sự. Chiếc nào mà chạy, trật khỏi đường rầy, tức nhiên lật gọng, tai nạn thê thảm. Cũng vậy, những người Phật Tử, dù tại gia cư sĩ, hay xuất gia tu sĩ, trì giới thanh tịnh, sẽ tu tinh tiến, kết quả rõ ràng, bớt chuyện phiền não, giảm thiểu khổ đau, chóng được niết bàn, an lạc hạnh phúc, ngay tại hiện đời.

3) Thứ ba là nhẫn nhịn. Có người quan niệm: nhịn thì nhục, cự thì đục. Họ cho rằng nếu nhịn được đằng chân, chúng sẽ lân đằng đầu, được nước lần này chúng sẽ làm tới lần sau, nhịn hoài chúng sẽ cho là mình ngu, cho là mình hèn, làm sao nhịn nổi, tại sao phải nhịn chứ? Chính quan niệm như vậy khiến cho cuộc đời luôn luôn đầy dẫy những tranh chấp, cãi vã, hơn thua, kiện tụng, đấu tranh, cho nên thường dẫn đến phiền não và khổ đau. Thực ra, chính vì con người không thể thực hành được "hạnh nhẫn nhịn" cho nên mới có quan niệm như trên. Người ta mắng mình một tiếng, mình trả một miếng, có khi nhiều hơn, thì dễ dàng quá. Người ta hành động, không tốt với mình, mình liền trả đũa, hết sức nặng nề, cho thiệt hả giận, cho thực đã nư, thì dễ dàng quá. Nhưng còn tiếp theo, sau đó thì sao? Câu chuyện như vậy, biết đến bao giờ, mới được chấm dứt, và dứt thế nào? Người ta lỡ lầm, vi phạm tội ác, mình đòi trừng phạt, cho thiệt xứng đáng, phanh thây xẻ thịt, treo cổ bắn bỏ, đày xuống địa ngục, bỏ tù rục xương, rủa xả chửi mắng, tưng bừng tơi tả, thì hãy thử nghĩ: ai ác hơn ai?

Có những người trên thế gian này xin ân xá cho kẻ phạm tội đã giết người thân của mình, bởi vì những người đó đã biết cảnh mất người thân, đau khổ như thế nào, nên không muốn gia đình phạm nhân lâm vào cảnh ngộ bi thương đó. Chúng ta đọc báo thấy thực sự có những người như vậy, nhưng rất hiếm hoi!

Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:

Lấy oán báo oán, oán nghiệp chập chùng.
Lấy ơn báo oán, oán nghiệp tiêu tan.

Người ta mắng mình một tiếng, nếu mình nhịn được, không trả một miếng, mới thực là khó. Người ta hành động, không tốt với mình, mình không hành động, giống y như vậy, mới thực là khó. Hơn nữa, nếu người ta gặp, khó khăn hoạn nạn, mình sẵn sàng giúp, thực tâm thực tình, hết lòng hết dạ, lại càng khó hơn. Làm được như vậy, mọi chuyện bình yên, tiếp theo sau đó. Câu chuyện thù oán, chắc chắn chấm dứt, một cách êm đẹp, nhẹ nhàng dễ dàng.

Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:

Thắng vạn quân không bằng tự thắng mình.
Tự thắng mình là điều cao quí nhứt.
Nghĩa là tự kềm chế bản thân, tự kềm chế hành động, tự kềm chế ngôn ngữ, tự kềm chế ý nghĩ của chính mình, mới thực là khó. Con người thường bị tâm tham lam, tâm sân hận và tâm si mê sai khiến, điều khiển, cho nên cuộc đời mới gặp nhiều phiền não và khổ đau. Khi tâm tham khởi lên, khi tâm sân khởi lên, khi tâm si khởi lên, người nào tỉnh thức, tự kềm chế được, tự hóa giải được, thì cuộc sống sẽ an lạc hạnh phúc. Chiến thắng được tâm tham lam, sân hận, si mê của chính mình, mới thực sự gọi là "có phước", mới thực sự đem lại an lạc và hạnh phúc cho cuộc đời mình. Cho nên cổ nhân có dạy: "Một sự nhịn chín sự lành", chính là nghĩa đó vậy.

Khi chiến thắng được tâm tham chẳng hạn, không đi ăn trộm, không chôm chỉa đồ, không gạt gẫm người, con người khỏi gặp rắc rối với pháp luật. Khi chiến thắng được tâm sân chẳng hạn, không chửi mắng đánh đập, không trả thù người khác, không thưa gửi kiện tụng, không gây thêm phiền não, không tạo thêm kẻ thù, không tăng thêm nghiệp báo, không chuốc thêm oán hờn, không làm chuyện càn dỡ, con người được thoải mái bình yên. Khi chiến thắng được tâm si chẳng hạn, không mê tín dị đoan, không uống nước sông suối, chẳng có chút vệ sinh, lại cho là nước thánh, không tin chuyện huyễn hoặc, không tin thiên linh chuỗi, chẳng có căn cứ, con người được bình tĩnh, tâm trí sáng suốt. Nhờ đó, con người sẽ ăn được ngon, ngủ được yên. Sách có câu: "Ăn được ngủ được là tiên". Đó là "phước báu" do chính mình tạo nên, không do trời ban, không do cầu nguyện.

4) Thứ tư là Tinh tấn. Tinh tấn nghĩa là siêng năng, cần mẫn tu tâm dưỡng tánh trong mọi hoàn cảnh, trong mọi động tác, đi, đứng, nằm, ngồi, để ngăn chận ba nghiệp, không tạo thêm tội lỗi, nghiệp báo mới. Không phải đợi đến lúc quỳ trước bàn Phật, hay đi đến chùa, hoặc dự các khóa tĩnh tâm, mới gọi là tu! Tu như vậy ít quá, một tháng mới có một khóa tu, một tuần mới đến chùa một lần, một ngày niệm hương trước bàn thờ, hay ngồi thiền, chừng một tiếng đồng hồ, 23 tiếng còn lại, tha hồ để tâm trí dong ruổi theo những ý nghĩ tạp nhạp, thương người này, ghét người khác, thị phi phải quấy, tâm trí bất định. Đến khi nghịch cảnh xảy đến, tai nạn giáng xuống, không đủ năng lực để đối phó, tâm trí của chúng ta sẽ xáo trộn, bất an, đương nhiên dẫn đến khổ đau và than trời trách đất. Sách có câu: "Mấy người lòng dạ tinh ma. Đã làm phải chịu, kêu mà ai thương", chính là nghĩa đó vậy.

Chúng ta tinh tấn làm tất cả các điều thiện, dù lớn dù nhỏ, cứu người giúp đời, làm cho cuộc sống của chính mình và của những người chung quanh, có ý nghĩa hơn, an lạc hơn và hạnh phúc hơn. Chúng ta tinh tấn diệt trừ những tạp niệm vọng tưởng, thường xúi giục chúng ta tạo thêm nghiệp báo xấu, để cho chính mình và những người chung quanh bớt lo âu, phiền muộn vì những hành động sai khiến bởi tâm tham, tâm sân và tâm si của mình. Chúng ta thử nghĩ: thực hành hạnh tinh tấn như vậy, có phải chúng ta được vô lượng vô biên "phước báu" chăng? Và nhờ hạnh tinh tấn, chúng ta không nản lòng trên đường tu tập các hạnh lành, dù gặp biết bao nhiêu nghịch cảnh trở ngại. Cho nên trong đạo Phật, hạnh tinh tấn được tượng trưng bởi Bồ Tát Đại Lực Đại Thế Chí, là vị Bồ Tát có năng lực tinh tấn lớn lao, có ý chí siêu xuất thế gian, dũng mãnh tiến bước không lui, trước mọi nghịch cảnh, trước mọi nghiệp chướng.

5) Thứ năm là Thiền Định. Thiền định nghĩa là trau giồi tâm tánh cho được tự tại, cho được bình tĩnh thản nhiên, trước mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường gặp những bước thăng trầm, những sóng gió của cuộc đời, chẳng hạn như lúc thịnh lúc suy, lúc được danh dự lúc bị hủy báng, lúc được khen tặng lúc bị chỉ trích, lúc được sung sướng lúc bị khổ đau. Trong kinh sách gọi đó là "bát phong", thường làm cho tâm trí của chúng ta bị bất an, chao đảo, dao động, xao xuyến, xáo trộn.

Cho nên đạo Phật dạy nhiều phương pháp để hàng phục và an trụ tâm, tùy theo căn cơ, trình độ, hoàn cảnh, sở thích, tâm nguyện của mỗi người, gọi là vô lượng pháp môn. Chẳng hạn như pháp môn tịnh độ dạy chúng ta tụng kinh, niệm Phật để định tâm. Khi chúng ta tụng kinh, thân ngồi ngay ngắn, nghiêm trang, miệng đọc lời Phật dạy trong kinh, tâm chú ý vào lời kinh và tiếng chuông mõ, nên không còn nghĩ ngợi linh tinh lang tang, tư tưởng không còn chạy lung tung nữa. Như vậy có nghĩa là tam nghiệp, gồm thân khẩu ý của chúng ta, đều được thanh tịnh.

Kinh sách có câu:

Tam nghiệp hằng thanh tịnh.
Đồng Phật vãng tây phương.
Nghĩa là khi ba nghiệp của chúng ta luôn luôn thanh tịnh, không còn tạo nghiệp nữa, thì "phước báu" vô lượng vô biên, chúng ta cùng chư Phật sống trong cõi tịnh độ tây phương. Hoặc khi tâm trạng bị hoang mang, lo lắng, sợ sệt, xôn xao, chúng ta dùng câu niệm Phật để định tâm, để trấn áp những tâm trạng bất an vừa kể.

Ở đây, cần biết thêm rằng không phải chúng ta tụng kinh để cho Đức Phật nghe! Cũng không phải chúng ta niệm Phật để cho Đức Phật tính sổ, coi chúng ta niệm được bao nhiêu câu, cộng được bao nhiêu chuỗi mỗi ngày! Kinh điển ghi lại lời dạy của Đức Phật cốt để hướng dẫn chúng ta tu tâm dưỡng tánh, điều trị tâm bệnh của chúng sanh, ví như toa thuốc của bác sĩ để điều trị thân bệnh, chứ không phải để đọc đi, đọc lại, tụng cho bác sĩ nghe!

Mục đích chúng ta tụng kinh, niệm Phật là để hàng phục và an trụ tâm, chuyển hóa từ kẻ phàm phu tục tử, trầm luân đau khổ, thành người trí tuệ, giác ngộ giải thoát. Hàng phục và an trụ được tâm, chúng ta mới có được cuộc sống phước báu, an lạc và hạnh phúc.

Cũng với mục đích hàng phục và an trụ được tâm, thiền tông dạy chúng ta "tứ oai nghi thiền". Nghĩa là trong bốn oai nghi, gồm có: đi, đứng, nằm, ngồi, trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta luôn luôn giữ gìn tâm được chánh niệm, không loạn tưởng, không tạp niệm, như vậy sẽ được chánh định. Cho nên mỗi khi tạp niệm, vọng tưởng khởi lên, chúng ta liền biết ngay và dừng lại, không bị luồng tư tưởng lăng xăng lộn xộn đó dẫn đi. Thí dụ như khi đang ngồi chơi, bỗng dưng chúng ta nhớ tới chuyện thù oán năm xưa, tâm trí liền xao xuyến với ý nghĩ trả thù phục hận! Nếu chúng ta không thức tỉnh dừng lại ngay, thì luồng tư tưởng này sẽ tiếp tục dẫn chúng ta đi tới ý nghĩ tìm cách nào để trả thù, cho đáng đời kẻ đã hại mình, đã thưa gửi mình ra tòa, đã vu oan giá họa cho mình, đã cáo gian mình, và hậu quả là chúng ta tạo thêm nghiệp báo! Cuộc đời chắc chắn sẽ gặp nhiều khổ đau! Tây phương có câu: "Do not mess up your beautiful life!", chính là nghĩa đó vậy.

Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật có dạy:

Quá khứ tâm bất khả đắc.
Hiện tại tâm bất khả đắc.
Vị lai tâm bất khả đắc.

Nghĩa là: Chuyện quá khứ qua rồi đừng luyến tiếc, đừng nhớ nghĩ làm gì cho bận tâm, chỉ gieo thêm nghiệp chướng chứ chẳng ích lợi gì. Chuyện hiện tại rồi cũng qua mau, cố níu kéo cũng chẳng được, có lo âu phiền muộn cũng chẳng ích lợi gì. Chuyện tương lai chưa đến, lo lắng, ưu tư, sầu muộn cũng chẳng giúp ích được gì. Chi bằng chúng ta giữ gìn tâm trí được như như, bình tĩnh, thản nhiên, có phải khỏe hơn không? Chuyện gì phải tới nó sẽ tới, lo sợ cũng chẳng ngăn cản được đâu. Tốt nhứt chúng ta đừng tạo thêm tội nghiệp mới, thì khỏi phải lo sợ quả báo, tội báo, nghiệp báo sẽ đến!

Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:

Lấy oán báo oán, oán nghiệp chập chùng.
Lấy ơn báo oán, oán nghiệp tiêu tan.
Nghĩa là chuyện oán thù trong quá khứ chỉ nên cởi mở, không nên kết chặt thêm. Thí dụ như trong gia đình trước kia có chuyện bất hòa, tranh chấp, chúng ta bèn bỏ nhà đi xa. Khi có dịp trở về quê hương viếng thăm, chúng ta mang theo quà cáp với tấm lòng từ bi hỷ xả, một trời thương nhớ, quên hết chuyện không vui trong quá khứ, tức nhiên mọi chuyện sẽ trở nên êm đẹp vui vẻ. Tâm trí của chúng ta sẽ an lạc hơn, cuộc đời sẽ hạnh phúc hơn.

Ở đây, cần biết thêm rằng thiền tông không dạy tọa thiền như con cóc, từ giờ này sang giờ khác, chẳng hiểu mục đích để làm gì, ngoài chuyện đem khoe khắp nơi khắp chốn? Chính thiền tông dạy chúng ta ngồi thiền để "chăn trâu", để thúc liễm thân tâm, tức là dẹp trừ tạp niệm và vọng tưởng, với mục đích hàng phục và an trụ tâm. Hơn thế nữa, không phải chỉ có lúc ngồi thiền mới dẹp trừ tạp niệm và vọng tưởng mà thôi. Trong đời sống hằng ngày, lúc tiếp xúc với ngoại cảnh, lúc thấy hình sắc, lúc nghe âm thanh, lúc ngửi mùi, lúc nếm vị, lúc xúc chạm, chúng ta luôn luôn giữ gìn tâm trí được bình tĩnh thản nhiên, không xao xuyến, không loạn động. Nếu trong tâm "lỡ" nổi loạn, tạp niệm khởi lên, chúng ta liền biết ngay và dừng lại kịp thời, thì đó chính là thiền định vậy.

Tổ Điều Ngự Giác Hoàng, tức là Hoàng Đế Trần Nhân Tôn nhường ngôi, đi tu, trở thành Sơ Tổ Thiền Phái Trúc Lâm, có dạy rằng:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
Nghĩa là dù sống trên trần đời, muốn được vui theo đạo lý, hãy đừng chấp chặt, tùy duyên hành sự, tùy hoàn cảnh mà ứng xử. Chẳng hạn như đói đến thì ăn, mệt ngủ khò. Chẳng có gì đòi hỏi, chẳng có gì buồn lo, chẳng có gì bận tâm, chẳng có gì ưu phiền. Trong mỗi con người chúng ta, ai ai cũng có "của báu", đó chính là "con người chân thật" của chúng ta. Cho nên chẳng cần chạy vào chùa, hay lên non lên núi, tìm kiếm làm gì cho mất công, nhọc sức vô ích. Trong cuộc sống hiện nay, đối với các cảnh trần đời, chúng ta đừng khởi vọng tâm lăng xăng lộn xộn, thương thương ghét ghét, phải quấy thị phi, tranh đua hơn thua. Lúc đó, chính là lúc chúng ta đạt được thiền định, hiểu được và sống được với "con người chân thật" của chính mình. Đó chính là mục đích cứu kính của đạo Phật vậy.

6) Thứ sáu là Trí tuệ. Trí tuệ trong đạo Phật, kinh sách gọi là trí tuệ bát nhã, không phải sự hiểu biết, kiến thức, trí thức của thế gian. Ở thế gian, người trí thức là người học cao hiểu rộng, có bằng cấp các ngành, nhưng vẫn sống trong trong sanh tử luân hồi, thường gặp phiền não khổ đau. Trí tuệ trong đạo Phật là sự nhận thức sáng suốt, đưa con người đến chỗ giác ngộ và giải thoát, được an lạc và hạnh phúc. Người có trí tuệ là người có chánh kiến, nghĩa là người thấy muôn pháp, biết muôn việc "đúng như thực", không mê lầm điên đảo, không mê tín dị đoan, không nhận giả làm chân, không chấp chặt thành kiến. Chẳng hạn như khi thấy việc gì xảy đến cho mình hay cho người, chúng ta biết ngay rằng: đó là kết quả hay hậu quả của một việc hay nhiều việc đã làm trước đây. Không bao giờ tự nhiên có khói, mà không do lửa phát sanh. Không bao giờ tự nhiên có sóng, trong khi gió lặng yên. Không bao giờ tự nhiên có cái cây mọc lên, mà không có hạt giống trong đất trước đó. Nhờ đó, chúng ta không ngạc nhiên, khi có chuyện may mắn đến, cũng như không đau khổ, khi có chuyện xui xẻo xảy ra.

Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật có dạy:

Chư pháp tùng nhân duyên sanh.
Chư pháp tùng nhân duyên diệt.
Nghĩa là mọi việc muôn sự trên thế gian này, trong kinh sách gọi là chư pháp, tùy theo nhân duyên mà sanh ra, cũng tùy theo nhân duyên mà diệt đi. Không có việc gì sanh diệt mà không có nguyên nhân. Không có cái gì, vật gì, việc gì tự nhiên xảy ra, tự nhiên sanh ra, tự nhiên xuất hiện. Không có cái gì, vật gì, việc gì tự nhiên biến mất, tự nhiên diệt đi, tự nhiên không còn nữa. Chẳng hạn như khi thấy một tòa nhà sụp đổ, một tình bạn kết thúc, chúng ta hiểu ngay phải có nguyên nhân và cũng hiểu rằng không có chuyện gì trên đời tồn tại vĩnh viễn. Nhờ đó, chúng ta có thể giữ gìn được tâm trí bình tĩnh thản nhiên, khi mọi chuyện tang thương biến đổi xảy ra trong cuộc đời.

Không có cái gì, vật gì, việc gì do ông trời, do thượng đế sanh ra cả. Chẳng hạn như một cơn mưa do hội đủ nhân duyên mà có, chứ làm gì có ông thần mưa, ông thần gió, ông thần sấm, ông thần sét, ông thần sông, ông hà bá, như người xưa tin tưởng, khi khoa học chưa phát triển. Bây giờ con người còn có khả năng làm mưa nhân tạo, ở bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào. Tại sao thượng đế làm ra cuồng phong, bão tố, lũ lụt, động đất, để giết hại con người? Thượng đế vẫn còn nổi cơn thịnh nộ, nổi cơn sân hận, để giáng họa trừng phạt con người ngoan cố, không nghe theo, không làm theo, như vậy có khác gì những kẻ phàm phu tục tử ở trên đời này, hay nổi sân hận, khi gặp chuyện không vừa ý?

Nếu chỉ đọc giáo lý của đạo Phật và chỉ biết Phật giáo qua lý thuyết, ắt là không đủ. Không học hiểu giáo lý, không thực sự biết Phật giáo như thế nào, chỉ nhắm mắt làm theo những tập tục cổ truyền một cách máy móc, tức nhiên là sai lầm và thiếu sót nặng nề. Học mà không hành thì khác nào cái đãy sách, cái tủ sách, cái tàng kinh các. Hành mà không học hiểu, khác nào người đi trong đêm tối, không có đèn đuốc, đụng đầu lọt hố, bất cứ lúc nào! Trọng Phật tin Phật mà không nghe Pháp học Pháp, như vậy chưa phải là đệ tử chơn chánh của Đức Phật. Vì không nghe Pháp học Pháp, làm sao thực hành đúng theo lời Phật dạy được? Do đó, con người sống mãi trong vô minh, mờ mịt u tối, si mê lầm lạc, bao giờ mới giác ngộ và giải thoát được, bao giờ mới hết phiền não giảm khổ đau được?

Chư Tổ có dạy: Tu mà không học là tu mù. Học mà không tu là đãy sách, chính là nghĩa đó vậy.

Chúng ta cần phải phát tâm học Phật Pháp, nếu muốn có được trí tuệ "đúng như thực", còn gọi là "trí tuệ bát nhã". Đó chính là "phước báu" tối thượng. Người có trí tuệ bát nhã, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách. Nghĩa là con người muốn được tự tại, muốn không sợ hãi, muốn qua mọi khổ ách, thì phải có trí tuệ bát nhã, thấy tất cả các pháp đều không thực, không tồn tại vĩnh viễn, không cố định. Cái thân ngũ uẩn của chúng ta cũng là một trong các pháp trên thế gian, cho nên cũng sẽ biến hoại sau một thời gian tại thế, không có gì đáng luyến tiếc, than thở, khổ đau. Chỉ có "con người chân thật không sanh diệt" mới là cứu kính mà thôi. Đó là những lời dạy vô cùng quí báu của Đức Phật, đó là bản đồ hướng dẫn chúng ta đạt được cuộc sống an lạc và hạnh phúc, tiến đến chỗ giải thoát và giác ngộ.

Tóm lại, trong cuộc sống hằng ngày, có rất nhiều cơ hội, có rất nhiều cách, có rất nhiều phương pháp, để cho con người làm phước, tạo phước, kiếm phước. Dù là phước hữu lậu hay vô lậu, đều có công năng giúp con người có cuộc sống bình yên, ít đau khổ, bớt phiền não, để tiến tới chỗ giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi. Phước hữu lậu do những việc làm tạo sự an vui thoải mái, có ích lợi cho người, giúp đỡ người lúc gặp khó khăn về vật chất hay tinh thần. Phước hữu lậu có công năng đem lại sự may mắn, tai qua nạn khỏi, chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không, bớt oan trái, giảm nghiệp báo. Người làm phước với ước mong được hưởng phước về sau, đó là phước hữu lậu, còn trong vòng sanh tử luân hồi.

Phước vô lậu do những việc làm có ích lợi cho người, nhưng đồng thời cũng chuyển hóa được con người chính mình, thí dụ như bố thí cúng dường, tụng kinh niệm Phật, tư duy thiền quán, tu tâm dưỡng tánh. Người làm phước với tâm từ bi hỷ xả, không cầu mong được hưởng phước về sau, chỉ cố gắng tu học để tiến dần đến chỗ giác ngộ và giải thoát, đó là phước vô lậu, vượt khỏi vòng sanh tử luân hồi. Trong lúc thực hiện hành động tạo phước, không nghĩ rằng mình đang làm phước, giúp đỡ người khác vì tình thương, do lòng tốt tự nhiên, với tâm bất vụ lợi, vì người quên mình, đó là hành động tạo phước cao thượng nhứt, đem lại "phước báu" vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn.

Phước hữu lậu ví như tiền tiết kiệm, có khả năng giúp con người giàu sang, sung sướng, may mắn, bình yên. Hưởng phước này có ngày cũng cạn, cũng dứt. Khi đó, con người sẽ phải đền trả những nghiệp báo trước kia. Chúng ta đã từng thấy các ông vua, các bà hoàng, các hoàng tử, các công chúa, các nhà giàu có trưởng giả, thế lực quyền quí, cao sang danh vọng, các lãnh tụ chính trị, các lãnh tụ tôn giáo, khi hưởng hết phước báo hữu lậu, họ phải chịu nhiều tai nạn, khổ ách, tán gia bại sản, thân bại danh liệt, thậm chí có thể mất mạng thê thảm, không chỗ chôn thân!

Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy:

"Con người khi đang hưởng phước báo, cũng như mũi tên bắn lên không trung. Mũi tên bay lên rất nhanh, rất mạnh, cũng như con người gặp mọi sự may mắn, tốt đẹp, như ý. Đến khi phước báo hết, con người bắt đầu đền trả nghiệp báo, cũng như mũi tên hết trớn thì rơi xuống đất cũng nhanh như vậy", chính là nghĩa phước hữu lậu đó vậy.

Bởi vậy cho nên, Đức Phật dạy chúng ta khi làm phước, đừng mong cầu hưởng phước báo, mà nên nguyện được phước duyên, đời đời gặp Chánh Pháp, gặp thầy lành bạn tốt, giúp đỡ tu tập, cho đến ngày giác ngộ và giải thoát, mà thôi.

Điều dĩ nhiên ai ai cũng có thể hiểu được là: tất cả những hành động nào, những lời nói nào, những ý nghĩ nào, ngược lại với việc tạo "phước báu", chính là hành động, lời nói, ý nghĩ, tạo tội lỗi, tạo nghiệp báo xấu vậy! Tội lỗi là do hành động, lời nói hay ý nghĩ làm cho mình, cho người khác đau khổ trong hiện tại và vị lai, dù vô tình hay cố ý.

Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy: "Chỉ có phước báo mới có thể giảm thiểu nghiệp báo mà thôi".

Con người tạo tội nghiệp từ trước, đến lúc phải đền trả quả báo, nhẹ thì bị chửi mắng, đau yếu, nặng thì gặp tai nạn, thậm chí mất mạng. Tội nghiệp do con người tạo tác, sanh ra tội báo nghiệp báo, được ví như một nắm muối. Nếu phải bị nuốt nắm muối đó, thì con người sẽ đau khổ biết là dường nào. Nhưng nếu có thể bỏ nắm muối đó vào trong một tô nước rồi uống, thì có lẽ sẽ dễ chịu hơn một chút. Nếu có thể bỏ nắm muối đó vào trong một lu nước rồi uống, thì chắc sẽ dễ chịu hơn một chút nữa. Nếu bỏ nắm muối đó vào trong một hồ nước lớn, rồi từ từ uống, thì chuyện sẽ không còn thành vấn đề. Tô nước, lu nước, hồ nước tượng trưng cho "phước báu", do chính chúng ta tạo được ít hay nhiều, sẽ giúp chúng ta tai qua nạn khỏi, chịu đựng được quả báo, do tội nghiệp đã tạo trước đây. Chuyện lớn sẽ hóa nhỏ, chuyện nhỏ sẽ hóa không, chuyện khó sẽ hóa dễ. Chứ không phải chúng ta tạo tội nghiệp đầy dẫy trong cuộc đời, gây đau khổ cho không biết bao nhiêu người thân kẻ thù, dù cho nhân danh công lý lẽ phải, trả thù báo oán, gì gì đi nữa, rồi đến lúc giựt mình thức tỉnh, bèn đem tất cả tội lỗi đã tạo, giao cho Trời Phật gánh giùm, chịu tội thế cho mình, bằng cách đi chùa cúng kiến, đi nhà thờ xưng tội, "thì mà là" tất cả tội lỗi đó tiêu tan hết đâu? Con người thường có thói quen "quịt nợ", cho nên mới có ý nghĩ như vậy!

Luật nhân quả không bao giờ sai chạy, dù cho con người tu hành đắc thánh quả, vẫn phải chịu quả báo do những tội nghiệp đã gây nên, từ nhiều đời nhiều kiếp trước kia. "Chỉ có phước báo mới có thể giảm thiểu nghiệp báo mà thôi". Chúng ta nên ghi nhớ lời Đức Phật đã dạy. Đọc lịch sử, chúng ta cũng đã nhận thấy, ngay cuộc đời của Đức Phật, cũng như các vị giáo chủ khác, vẫn bị người đời gièm pha, vu khống, mạ lỵ, chửi bới, ám sát, xét xử, giam cầm, giết hại. Nếu là bậc "phước tuệ lưỡng toàn" như Đức Phật, nghĩa là phước báu và trí tuệ đầy đủ, thì mọi chuyện trở ngại trên thế gian này rồi cũng qua, cuộc đời kết thúc một cách êm đềm, bình an, tự tại. Nếu không có đủ phước báo thì, dù là bất cứ ai, cũng sẽ bị xử chết một cách thê thảm!

Khi Đức Phật còn tại thế, có người ngoại đạo đến hỏi Đức Phật: Ngài có kinh điển nào đem đọc tụng, có thể giúp cho đệ tử của Ngài vãng sanh niết bàn được không? Đức Phật trả lời rõ ràng: KHÔNG! Tại sao vậy? Bởi vì con người hiền thiện, biết tu tâm dưỡng tánh khi còn sinh thời, tâm tư thanh thản, nhẹ nhàng, thì nhứt định kiếp sau sẽ sinh ở cõi lành. Con người hung ác, luôn luôn làm việc lợi mình hại người, bất chấp thủ đoạn, bất kể sự phiền não khổ đau của tất cả mọi người, thì nhứt định kiếp sau sẽ sinh vào tam đồ ác đạo, gồm có: địa ngục, ngạ quỉ và súc sinh. Thí dụ như dầu nhẹ hơn nước thì nổi trên mặt nước, đá nặng hơn nước thì chìm dưới đáy nước, không nghi ngờ gì cả, không thể nào khác hơn được. Đó là chân lý công bằng tuyệt đối vậy.

Cuối cùng, vấn đề sau hết là sự khác nhau giữa "phước báu" và "phước báo". Phước báu là từ ngữ chỉ những hành động, lời nói và ý nghĩ, thiện lành quí báu, tạo phước trong hiện tại, ví như chúng ta làm việc, kiếm tiền sinh sống, có dư dả thì để dành về sau. Phước báo là từ ngữ chỉ kết quả, còn gọi là quả báo lành, quả báo phước đức, do những hành động, lời nói, hay ý nghĩ thiện lành, từ nhiều đời trước cũng như đời này, đến với chúng ta qua các dạng: thới hên, may mắn, bình yên, an ổn, đẹp đẽ, vui vẻ, khỏe mạnh, hạnh phúc, giàu sang, sung sướng, nhàn nhã, trường thọ, trong cuộc đời hiện tại, ví như tiền tiết kiệm chúng ta dành dụm được từ trước đến nay, bây giờ đem ra xử dụng khi cần thiết.

Thứ Ba, 5 tháng 3, 2013

KHÓA TU NGÀY CHỦ NHẬT (10/03/2013)


KHÓA TU NGÀY CHỦ NHẬT (10/03/2013)




Chùa Huê Nghiêm 2 256 Lương Định Của, Quận 2, TPHCM (HT. Thích Trí Quảng trụ trì)

Theo sự chỉ đạo của Hòa Thượng Tôn Sư, chiều Chủ Nhật ngày 10/03/2013 (nhằm ngày 29/01 Âm lịch) tại Chùa Huê Nghiêm có tổ chức khóa tu dành cho Phật tử. 
               14h : Tụng Kinh
               15h : Thuyết Pháp
Kính thông báo đến quý Phật tử đồng về tham dự.

KINH LĂNG NGHIÊM giảng giải 12 - Thầy Thích Tuệ Hải