Thứ Hai, 1 tháng 4, 2013

Trồng Căn Lành Và Sám Hối - HT. Thích Trí Quảng


Người đã từng trồng căn lành ở các Đức Phật quá khứ và có nhân duyên sâu dày với Phật pháp, thì đời này mới xuất gia được và gặt hái kết quả tốt đẹp. Còn người tu bắt chước, hay tu theo hình thức không thể nào có sở đắc, vì không có căn lành. Người có căn lành ví như có máy vi tính mới mở mạng được, mới bắt được các tín hiệu của chư Phật, chư Bồ tát mười phương, mới nhận được lực gia bị của các Ngài, gọi là được Phật hộ niệm, được Bồ tát trợ lực. Như vậy, hành giả mới hành đạo theo tín hiệu của Phật, Bồ tát; đó là việc quan trọng của người tu.

Tuy nhiên, dù đã trồng căn lành với Phật rồi, nhưng việc tu hành của chúng ta bị sai trái. Bấy giờ, chúng ta vẫn nghĩ đến Phật, vẫn tin Phật, nhưng vì căn lành bị hư nên không bắt được tín hiệu của Phật, tất nhiên không nhận được lực gia bị của Ngài. Thật vậy, có nhiều vị trao đổi với tôi về ý này và những vị tu theo Pháp Hoa cũng nói như vậy. Họ nói rằng lúc mới tu rất tinh tấn, việc gì cũng làm được, nhất là chịu đựng dễ dàng những điều xấu ác đổ lên họ; nhưng gần đây, lại dễ giận, dễ bực tức và không có hứng thú lễ Phật, tụng kinh, hay tham thiền. Tôi nhắc nhở rằng vì căn lành của quý vị bị hư, ví như máy vi tính hư, nên không bắt được tín hiệu của Phật; từ đó, Phật lực không gia bị đến thì bị ma bên ngoài tác động, khuấy phá cuộc sống tu hành.
Vì vậy, máy bị hỏng phải tìm thợ sửa, căn lành bị mất thì phải phục hồi lại bằng cách tìm người có căn lành và tu hành có kết quả để nhờ họ chỉ dạy, giống như mình sử dụng nhờ máy của bạn cũng mở mạng được. Chúng ta mất tín hiệu của Phật, nhưng nhờ gần gũi các bậc thiện tri thức mà tâm được an và thấy hằng sa Phật, mau đến Vô thượng Bồ đề. Đức Phật đã dạy như vậy trong kinh Pháp Hoa.
Theo kinh nghiệm riêng tôi, gần ai mà tâm tôi cảm thấy bất an thì tôi tránh họ; còn gần người mà tâm mình được an thì nên theo, vì nhờ đó mà căn lành của ta được phục hồi. Nếu không phục hồi căn lành, cứ ngoan cố tiếp tục đi xa trên lộ trình hành đạo, sẽ dễ bị đọa. Đây là trường hợp thứ hai, người có căn lành và tu hành có kết quả tốt, nhưng sau đó, căn lành bị mất.

Và trường hợp thứ ba là người tu bắt chước, ví như thấy người khác có máy vi tính, họ cũng làm một cái máy giống như vậy, nhưng chỉ giống được cái vỏ bên ngoài, còn bên trong máy không đúng kỹ thuật, cho nên máy không thể hoạt động được. Cũng vậy, người có hình thức tu sĩ, nhưng căn lành bên trong, tức cốt lõi thầy tu không có, thì không nghe được tín hiệu gì và tu hành không đạt kết quả tốt. Thực tế cho thấy tình trạng này xảy ra rất nhiều, vì kết quả tu chứng không có, nên dẫn đến việc tạo nghiệp xấu không thể lường được. Tạo nghiệp bằng cách nào?

Nhờ khoác áo thầy tu, cư sĩ tín tâm trông thấy họ, dễ phát tâm kính trọng, nhưng thật ra họ chỉ là thầy tu hình thức, không phải là đệ tử Phật, không xứng đáng được kính trọng, nên phước họ bị tiêu tan rất nhanh, không được cung kính, cúng dường nữa, cho đến phải hoàn tục, phải trả nợ cũ. Thật vậy, chúng ta thấy không ít những thầy tu ra đời, thường trả nợ không nổi, vì đã thọ hưởng quá nhiều của đàn na tín thí. Các thầy suy nghĩ sẽ thấy người ta cúng dường phẩm vật ít, nhưng yêu cầu của họ quá lớn. Họ cúng một ngàn đồng, nhưng nhờ mình cầu siêu cửu huyền thất tổ của họ. Cửu huyền thất tổ có bao nhiêu người và làm sao họ siêu được? Mình nhận, nhưng làm được hay không? Tôi rất sợ phẩm vật cúng dường. Yêu cầu của người ta quá lớn, không có người nào cúng dường mà không có yêu cầu kèm theo. Nếu là Thánh Hiền Tăng đắc đạo thì tâm thanh tịnh, không kẹt vật, nên việc thọ nhận của cúng dường sẽ được hóa giải bằng lý Bát nhã.
Vì vậy, bước theo dấu chân Phật, cư sĩ có cúng dường hay không, cung kính hay phỉ báng, thì những việc này đều nằm ngoài tâm ta. Không phải thấy phẩm vật cúng dường, ta vui, không phải bị xem thường, ta buồn. Cố gắng giữ tâm thanh tịnh, an trú pháp Không, thì nhân quả sẽ bị bỏ ra ngoài. Thử hỏi người tu có kẹt nhân quả hay không? Nói không có nhân quả thì sai; còn nói có, chúng ta giải quyết cách nào. Việc chính yếu của chúng ta là làm thế nào không kẹt nhân quả. Muốn như vậy, phải đặt mình ngoài cuộc sống, gọi là cái thân ngoại vật, thì tâm sẽ được an.

Nếu người chưa có căn lành, phải trồng căn lành ở các Đức Phật. Trồng căn lành bằng cách nào? Tôi biên soạn Hồng danh Pháp Hoa là pháp môn tu của riêng tôi, trong đó, chính yếu là lạy Phật để trồng căn lành, sám hối để tiêu tội. Pháp này tôi căn cứ theo pháp tu của Thiên Thai Đại sư. Ngài dạy rằng muốn tu phải sám hối cho sạch nghiệp; nếu không, việc tu hành chỉ có kết quả tạm mà thôi.

Theo Ngài Thiên Thai, có ba cách sám hối dành cho ba hạng người. Hạng người thứ nhất không có nghiệp nghĩa là tâm hoàn toàn thanh tịnh, không buồn phiền, bực tức, thì vào đạo liền thâm nhập Phật huệ và được Phật lực gia bị nhanh chóng. Các Ngài không cần sám hối, chỉ niệm đề kinh là ngộ đạo, đắc đạo; vì niệm bằng tâm thanh tịnh, các Ngài đã thấy hằng sa chư Phật. Như vậy, không cần khổ công nhọc sức, nhưng được kết quả bất tư nghì, thì đó là hàng Bồ tát lớn hiện thân lại cuộc đời này, chắc chắn không phải là chúng ta.
Hạng người thứ hai có nhiều nghiệp, nhưng chưa nặng, được ví như mặc chiếc áo dơ. Họ phải lạy Phật để sám hối tội căn, cầu Phật gia bị, giống như giặt áo cho sạch thì nhuộm màu được. Lạy sám hối đến bao giờ sạch nghiệp, thấy hảo tướng, tức là thấy Phật, hình dung được Phật. Nếu lạy Phật, nhưng chưa tập trung tâm, nghiệp còn khởi, sẽ không đạt kết quả tốt. Lạy Phật mà cảm giác như Phật ở trước mặt mình thì hiệu quả mới cao. Còn lạy Phật, nhưng đối tượng là tượng Phật bằng xi măng cốt sắt, bằng gỗ đá, thì chưa sạch được nghiệp.
Vì vậy, đến giai đoạn hai, chúng ta nhìn tượng Phật, phải tưởng ra Phật, là thấy Phật bằng tâm; cho đến nhìn hư không cũng thấy Phật, nhìn núi non biển cả cũng thấy Phật, nghĩa là tâm chúng ta đã thanh tịnh, nghiệp chúng ta không khởi nữa và cuối cùng nhìn người nào cũng thấy Phật, tức thấy Phật tâm của họ, thấy họ sẽ thành Phật trong tương lai. Ý này thể hiện sâu sắc qua công hạnh của Bồ tát Thường Bất Khinh. Ngài nhìn các Tỳ kheo tăng thượng mạn, nhưng thấy được Phật trong lòng họ, nên Ngài mới cung kính, lễ lạy họ. Tất nhiên điều này rất khó. Theo kinh nghiệm của riêng tôi, thấy được điều tốt của người khác, chúng ta sẽ dễ dàng thương kính họ, đương nhiên gặt hái được kết quả tốt.

Có người nói với tôi rằng họ không làm điều gì sai trái, nhưng bị huynh đệ ghét. Tôi bảo thầy đừng nghĩ và đừng thấy họ khó chịu; vì nghĩ như vậy là đem cái khó chịu vào lòng mình, thì nghiệp sẽ đụng chạm với nghiệp, dẫn đến nặng lời với họ, cho đến tệ hơn nữa là đánh nhau, thì cả hai phải đi khỏi chùa. Theo kinh nghiệm của tôi, người ta có tệ thế nào chăng nữa, mình cũng nên nghĩ rằng họ có căn lành mới sinh làm người, mới được xuất gia. Phải cố tìm thấy được điểm tốt của người, lần lần họ sẽ trở thành tốt.

Bước thứ hai nhìn đâu cũng thấy Phật và nhìn ai cũng thấy Phật, không thấy tánh ác và sang giai đoạn ba, quan trọng hơn. Những người đã tốt sẽ có thiện cảm hơn với mình, những người chưa tốt cũng sẽ tốt với mình và người chống đối cũng tốt với mình. Đó là do nhân sám hối, lạy Phật, nghĩ tốt về người mà họ cư xử tốt với ta như vậy. Thiết nghĩ ai cũng có điểm tốt. Chúng ta chỉ quan hệ với họ ở mặt tốt thôi, thì ta và họ cùng tốt; còn dại khờ nghĩ xấu về họ, chắc chắn phải gánh lấy ác cảm và hành động ác của họ.
Như vậy, ở giai đoạn hai, sám hối thanh tịnh, thì đầu tiên hảo tướng hiện và người cũng thấy chúng ta tốt, nghĩa là chúng ta vào cửa đạo được và đã sám hối tiêu tội.
Trường hợp thứ ba, Ngài Trí Giả ví như chiếc áo dơ và lại bị rách, người này phải hạ thủ công phu nhiều hơn, phải giặt áo cho sạch và phải vá áo cho lành lặn. Mặc dù áo vá rồi, nhưng đường chỉ vẫn còn, nghĩa là dù đã sám hối, nhưng người ta vẫn thấy tội lỗi của mình, thì phải trải qua nhiều kiếp mới thay đổi được. Điển hình như trường hợp Ngài Kiều Phạm Ba Đề là một vị A la hán, nhưng vẫn phải trả quả báo đời trước là trâu, nên đời này tâm bên trong thanh tịnh, nhưng tướng nghiệp của Ngài chưa đổi được, là miệng của Ngài vẫn cứ nhai nhai như trâu đang nhai cỏ.

Vì vậy, khi tướng nghiệp bên ngoài của ta chưa đổi được, họ vẫn nghĩ ta không tốt, thì ta không nên thắc mắc, không nên ấm ức. Theo tôi, có được tâm tốt là quan trọng, còn tướng bên ngoài chưa tốt đành phải chấp nhận. Chỉ sợ người ta hiểu lầm rằng tâm mình tốt, trong khi thật sự mình không tốt. Nếu tâm đã tốt rồi thì không thể thấy cái xấu. Còn thấy điều xấu bên ngoài là cái xấu đã đem vào lòng mình, nên mới có ấm ức.

Hạng thứ nhất thuộc hàng Thánh đã sạch nghiệp rồi và hạng người thứ hai tu hành, sám hối tiêu nghiệp thì cũng đồng với hạng người thứ nhất. Còn hạng người thứ ba đã lăn lộn quá nhiều trong cuộc đời, chất chứa biết bao phiền toái đầy dẫy, sám hối cho tiêu nghiệp rất khó. Có thể nói hạng đồng chơn nhập đạo rất khó tu, nhưng tu được thì mau đắc đạo, ví như áo sạch dễ nhuộm màu đạo. Hạng thứ hai là người bán thế xuất gia nếu sám hối tiêu nghiệp thì cũng bằng với hạng thứ nhất. Và những người lớn tuổi mới tu đã nhiễm đời quá nhiều, ví như chiếc áo vừa dơ, vừa rách. Họ mang tâm hồn dơ bẩn vào chùa mà được đại chúng thương xót là may mắn lắm rồi, có thể tu được. Nói dí dỏm là hạng người quan tha, ma không bắt, nên người già đi tu nhiều, vì ở ngoài đời còn làm được gì. Những người này tu dễ, không ai dòm ngó đến họ, nhưng rất khó đắc đạo, vì nghiệp nặng.

Tuy nhiên, dù thế nào đi nữa, các thầy cũng phải sám hối cho tiêu nghiệp, thì hảo tướng hiện và người ta không thấy mình xấu  nữa, cũng như mình không thấy họ xấu. Tôi có kinh nghiệm về điều này, nếu mọi người đều phớt lờ cái xấu và đem cái tốt vô lòng, ai cũng lo tu hành, thì đại chúng được yên ổn.

Tu theo Hồng danh Pháp Hoa, tôi chú tâm đến pháp sám hối, sử dụng bốn câu trong kinh Hoa Nghiêm:
Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều bởi vô thỉ tham sân si
Từ thân miệng ý mà sanh ra
Tất cả con nay xin sám hối.

Ghép bài kệ này với Hồng danh Pháp Hoa để lạy sám hối rồi và bổ sung thêm một phần nữa là ba đời chư Phật. Ba đời chư Phật gồm có 10 Đức Phật quá khứ cũng rút từ kinh Pháp Hoa là: Oai Âm Vương Phật, Nhật Nguyệt Đăng Minh Phật, Nhiên Đăng Phật, Đại Thông Trí Thắng Phật, Không Vương Phật, Vân Tự Tại Đăng Vương Phật, Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật, Vân Lôi Âm Vương, Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Phật và thập phương tận hư không giới nhứt thiết chư Phật.

Trong phẩm Tựa thứ nhất của kinh Pháp Hoa, chúng ta thấy có Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh và hai vạn Phật đồng danh. Chúng ta lạy Phật để kết duyên, để trồng căn lành ở các vị này và nhờ Phật hộ niệm chúng ta. Lạy một vị Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh, nhưng chúng ta nghĩ đến hai vạn Đức Phật đồng danh và nếu kết hợp với kinh Hoa Nghiêm, thì Phổ Hiền Bồ tát dạy rằng "Nhứt thân phục hiện sát trần thân. Nhứt nhứt biến lễ sát trần Phật”, nghĩa là có bao nhiêu Đức Phật nhiều như vi trần, chúng ta cũng có bấy nhiêu thân để lễ lạy; vì sử dụng tâm lạy Phật thì thiên biến vạn hóa. Không phải lạy một Phật và nghĩ đến một Phật; nhưng thân ta lạy xuống mà tâm ta linh hoạt vô cùng, cho nên nhiều Phật đến đâu chăng nữa thì chúng ta cũng có vô số tâm tương ưng để kính lễ.

Vì thế, điều chính yếu của người tu là phải vận dụng được tâm. Người tu có kết quả, thân không lạy, nhưng tâm lễ lạy; miệng không niệm, nhưng tâm niệm. Thực tế cho thấy các bậc cao tăng không làm bằng chân tay, không nói năng, các Ngài yên lặng và vận dụng tâm linh hoạt để tiến tu, cho nên các Ngài tu đạt kết quả cao hơn chúng ta rất nhiều; đừng ngu si mà nói các Ngài không tu. Chúng ta phải cố học cho được "Cái không tu mà được”. Chúng ta lạy Phật, tụng kinh, tham thiền, cho nên hảo tướng hiện ra là điều bình thường. Trong khi các Ngài không làm mà hảo tướng hiện và trí tuệ sanh, là tu pháp vô lậu, học pháp vô lậu, thể hiện tinh thần "Hành vô hành”, tức vận dụng tâm mình mà tu. Vì vậy, không cần thân bên ngoài hoạt động; vì thân hoạt động là tâm bị kẹt vô đó, nhưng thân bất động, tâm vận dụng được, là nhập Tỳ lô tánh; đó là yếu chỉ của kinh Hoa Nghiêm. Đầu tiên là ngộ Tỳ lô tánh, mới hiện Tỳ lô thân và ứng Tỳ lô dụng. Đạt được ba pháp này thì viên dung không thể suy lường.

Có thể nói tu theo kinh Hoa Nghiêm là tu Phật thừa, tức chân lý mà Đức Phật chứng ngộ ở Bồ Đề Đạo Tràng. Lúc đó, Ngài không nói, nhưng có vi trần Bồ tát tham dự hội Hoa Nghiêm. Cốt tủy này quá siêu việt, chúng ta chưa thể đạt tới. Cho nên chúng ta phải trở về pháp sám hối, phải giải cấu y, tức chuyển hóa thân ô uế này trở thành trong sạch như hoa sen, mới thể hiện được tinh ba của Pháp Hoa.

Ở hội Hoa Nghiêm, chư Bồ tát đã tự tịnh thân, nên ngộ Tỳ lô tánh, hiện Tỳ lô thân, ứng Tỳ lô dụng. Có Tỳ lô thân thì giáo hóa vô số chúng sinh mà không có chúng sinh nào bị giáo hóa; đó là sự giáo hóa của Phật khác với chúng sinh độ chúng sinh. Tôi tu Pháp Hoa theo Phật thừa là làm sao tôi giáo hóa, nhưng người không bị ràng buộc, tôi không rầy la, nhưng người trở thành tốt.

Kết hợp kinh Hoa Nghiêm và kinh Pháp Hoa là pháp tu của tôi, được biên soạn thành Bổn môn Pháp Hoa thông qua lý Bát nhã. Tâm lúc nào cũng trụ Bát nhã, thì có thể hiện Tỳ lô thân và ứng Tỳ lô dụng là dụng của Pháp thân; theo đó, giáo hóa bất khả tư nghì, không giới hạn. Chúng ta thấy có những người thành tựu được việc lớn mà ta không lý giải được, là vì họ trụ Bát nhã, không nói, không làm, nhưng hàng hàng lớp lớp người theo họ mà không ai phá hại được. Như vậy, họ ngộ Tỳ lô tánh rồi thì việc làm của họ là dụng của Pháp thân, nên Pháp thân tự hiện. Chính vì vậy, họ không mang hình thức xuất gia, như ông Ikeda đóng vai cư sĩ lãnh đạo hội đoàn Pháp Hoa là Sokkai Gakkai có 16 triệu hội viên, thì chúng ta phải kính trọng chứ, dù họ mang hình thức gì. Hoặc Ni sư Chứng Nghiêm ở Đài Loan có năm triệu đệ tử; đó cũng là việc khó.

Lạy Phật theo Hồng danh Pháp Hoa, phải kết hợp được kinh Pháp Hoa với kinh Hoa Nghiêm, rồi thâm nhập Pháp giới để lạy thì sẽ có kết quả bất khả tư nghì. Lúc mới lễ lạy, chúng ta đối trước bàn Phật, nhưng về sau, ở bất cứ chỗ nào, tâm chúng ta khởi lên, nghĩ đến Phật thì đều có Phật. Các thầy đi đâu, ở đâu, nghĩ về Phật và được Phật lực gia bị là lạy Phật bằng tâm và niệm Phật bằng tâm; bấy giờ ta và Đức Phật có quan hệ mật thiết, nên tiếp nhận được sự gia bị của Ngài, lòng thanh thản mới thốt lên rằng "Trần duyên thuận nghịch tâm không thiết”. Nói cách khác, đó là sự kết hợp giáo và thiền thành một. Thiền là tâm sáng suốt và vận dụng tâm này để lễ Phật thì ngồi yên nhưng lễ được chư Phật mười phương.

Tôi chọn 10 vị Phật quá khứ trong kinh Pháp Hoa và 18 vị Phật trong tám phương là chư Phật hiện tại. Trong phẩm Hóa thành dụ thứ bảy, Đức Phật Đại Thông Trí Thắng có 16 vị vương tử tu hành thành Phật ở tám phương và Đức Thích Ca là Phật thứ 16 ở phương Đông Bắc. Ở phương Đông, chúng ta thêm Phật Thiện Đức lấy từ kinh Quán Phổ Hiền và Phật Bảo Oai Đức Thượng Vương ở phương Đông của phẩm Phổ Hiền Bồ tát Khuyến Phát. Như vậy, lạy Phật phương Đông nhiều nhất, có năm vị Phật và câu kết chúng ta lạy Nam mô Đông phương tận hư không giới nhứt thiết chư Phật.

Đầu tiên, chúng ta lạy Phật có tôn danh, về sau, tâm mở rộng, ở phương Đông có bao nhiêu vị Phật, chúng ta lễ lạy đầy đủ là theo tinh thần kinh Hoa Nghiêm. Lạy Phật tám phương, thì dù ở đâu tôi vẫn có cảm giác chung quanh mình luôn có Phật, nên thấy an ổn trên cuộc đời này. Tôi thường nghĩ xung quanh có Phật thì  tất cả mọi thứ chẳng đáng sợ. Việc khó, tôi càng siêng năng lạy Phật để thấy tâm mình bình ổn hơn.

Lạy Phật nhiều, các thầy thử khởi ý niệm quan sát chư Phật, từ đầu niệm danh hiệu Phật, sau thấy hình tướng các Đức Phật; được như vậy mới cảm thấy an ổn. Lạy Đức Phật A Súc, chúng ta nghĩ đến ánh sáng trí tuệ của Ngài. Lạy Phật Sư Tử Âm, là lạy vị Phật tiêu biểu cho âm thanh Phật. Lạy Phật Hư Không Trụ, ta có cảm giác vị này không vướng bận gì cuộc đời.

Tiếp nhận được lực gia bị của chư Phật ở tám phương truyền cho là ta tổng hợp của các Ngài, mới giáo hóa được chúng sinh. Bấy giờ, Phật gia bị cho ta và ta đại diện Phật, thì việc ta làm trở thành Phật sự, cho nên việc khó cũng trở thành dễ; còn thế gian sự, hay việc riêng thì việc nhỏ cũng không làm nổi. Điển hình như một năm Thành hội Phật giáo TP.HCM làm từ thiện trên 100 tỷ đồng, trong khi thực tế chư Tăng sống phạm hạnh với Tam thường bất túc, không làm ra tiền. Người không có tín ngưỡng phê phán chúng ta là lực lượng phi sản xuất, ăn hại. Tôi nói rằng người tu ăn nhưng không hại, mà ăn có lợi thì người ta mới tự nguyện cúng dường chứ. Thiết nghĩ các thầy cần lưu tâm, đừng làm kẻ ăn hại, ít nhất là ăn không hại, cho đến ăn mà có lợi cho người, thể hiện đúng nghĩa đệ tử Phật hiện hữu trên cuộc đời này để thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh.

Thứ Bảy, 30 tháng 3, 2013

Tâm Bình - Thế Giới Bình - HT. THÍCH TRÍ QUẢNG


     Khi Đức Phật thành đạo ở cội bồ-đề, Ngài nhận ra rằng trên thế gian này không có khổ, nhưng vì chúng sinh do vọng kiến, nghĩa là thấy và hiểu sai lầm nên hành động sai lầm, mới tạo thành khổ đau của muôn loài ở thế gian. Ba điều sai lầm là thấy sai, hiểu sai và hành động sai chủ yếu phát xuất từ tâm. Vì vậy, Phật nói Ngài đã nhận ra được ngôi nhà ngũ ấm và từ đây về sau, người chủ ngôi nhà không còn tạo ngôi nhà mới nữa, tức là Ngài không còn tái sanh trong cõi sinh tử luân hồi.

      Cái gì tái sanh và cái gì tạo nên sự tái sanh? Đức Phật khẳng định rằng tâm tạo ra tất cả. Trong kinh Hoa nghiêm có dạy rõ điều này qua bài kệ:
         Nhược nhơn dục liễu tri
         Tam thế nhứt thiết Phật
         Ưng quán pháp giới tánh
         Nhứt thiết duy tâm tạo.

     Nghĩa là tất cả mọi việc do tâm tạo ra, tâm làm chủ. Vì vậy, nhận ra tâm mình và làm chủ tâm mình, chúng ta không còn tạo ác nghiệp, thì không còn khổ và không còn sanh tử luân hồi.

     Các vọng kiến ngăn che sanh ra ham muốn khác nhau là chỉ cho nghiệp, phiền não và trần lao. Phiền não tạo nghiệp và nghiệp tạo khổ. Gốc của phiền não không có, nghĩa là nếu chúng ta không tạo nghiệp thì cũng không có khổ. Ví dụ lòng tham của con người là phiền não, do lòng tham mới tạo nên nghiệp. Nếu không có lòng tham, thì không tạo nghiệp ác như giết người, cướp của, hay buôn bán bất hợp pháp, v.v... Vì lòng tham muốn có lợi nhuận lớn và người khác cũng vậy, cho nên mới sinh ra lừa dối nhau, đưa tới phá sản, tội lỗi.

     Lòng tham có tham danh, tham lợi và căn bản sâu kín là tham ái, tham dục mà đoạn được là sanh tử luân hồi chấm dứt. Lợi và danh phục vụ cho ái dục, ba cái tham này gắn liền với nhau và tạo tội liên tục. Người có địa vị và danh vọng cao, nhưng gia đạo không an, con hư, vợ hỏng, thì họ rất khổ.

     Đức Phật đã ý thức được sự tác hại của tâm tham, nên Ngài đã sớm từ bỏ cung vàng điện ngọc để đi tìm đạo. Đối với mọi người, ai cũng ham thích cung vàng điện ngọc và kẻ hầu người hạ, nhưng với trí tuệ của thái tử Sĩ-đạt-ta, Ngài thấy đó là khổ, sung sướng chẳng bao nhiêu, nhưng khổ đau gây ra cho thiên hạ thì không lường được. Thái tử có ba tòa lâu đài thích hợp với ba mùa và có trăm ngàn cung nữ ca hát, thị vệ hầu hạ. Người tham dục thấy như vậy là sướng và có khi còn muốn hơn nữa, nhưng dưới mắt của Sĩ-đạt-ta, thì đây là tội lỗi, vì một mình Ngài hưởng mà phải bỏ công sức xây dựng đến 3 tòa lâu đài, tốn kém của dân, là món nợ rất lớn, thì hưởng xong, phước hết, không sống được trong lâu đài nữa. Phước tạo rất khó, nhưng hưởng thì nhanh và dễ hết thì khổ, họa tới không lường được. Cho nên Sĩ-đạt-ta thấy vui trong tham dục để khổ, khổ thân, cho đến khổ tâm. Tất cả những điều này do đâu mà có? Đương nhiên nó phát xuất từ tâm ham muốn của con người tạo nên. Thật vậy, tất cả những tòa lâu đài trên thế gian này đều tàn phá thiên nhiên và phát xuất từ tâm tham hưởng thụ của con người, từ đó tạo nên khổ đau cho mình, cho xã hội và cho muôn loài. Ngày nay, lòng tham của con người khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và thiên nhiên đã đáp trả lại cho chúng ta bằng những tai họa khủng khiếp.

     Phật thấy tâm tạo ác, nhưng cũng tạo thiện, vì tâm làm chủ, cho nên Phật dạy tu hành là chuyển đổi tâm ác thành thiện. Ngài Thế Thân chia tâm chúng ta ra hai phần là ác và thiện để chúng ta phát huy phần thiện và chuyển hóa phần ác thành thiện. Theo Bồ-tát Thế Thân, chúng ta có 8 phần tâm vương mà gốc của nó là vô thưởng vô phạt. Tâm ví như ông vua là chủ vô thưởng vô phạt, vì mọi quyết định do quan và tướng, tức là tâm sở liên hệ với tâm vương. Tâm vương là chủ, nhưng không có tâm sở thì không làm được gì, cũng như làm vua phải có quan và tướng mới làm được. Trong quan và tướng có trung thần và nịnh thần, gian thần, nhưng gian thần và nịnh thần thì đông, còn trung thần chỉ có 11. Ngài ví gian thần như phiền não là tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến là 6 tên quan nguy hiểm luôn đứng cạnh tâm vương. Vì vậy, khi vua bị lòng tham tác động nhiều thì nguy hiểm vô cùng, hoặc lòng sân hận, kiêu mạn, nghi ngờ tác động vô tâm vương mới khởi lên ác xấu. Nói chung là tánh ác xấu tác động khiến tâm vương khởi. Ta ngồi yên không có gì, nhưng nghe một người nói tốt, thì ta khởi ý tốt, nghe người nói xấu, ta khởi ý xấu. Trong 6 căn bản phiền não vừa nói thì 5 cái trước không quan trọng bằng cái thứ 6 là ác kiến và ác kiến cũng sanh ra thêm 5 cáixấu nữa là thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ và giới cấm thủ, tạo thành 10 triền, 10 sử. Tâm vương bị 10 triền 10 sử ràng buộc và sai khiến, nên khổ, ví như ông vua ngồi trên ngai vàng mà như là ngồi trên đống lửa. Lửa này là 10 triền và 10 sử, nếu vua không sáng suốt sẽ bị cận thần chi phối, sai khiến, họ làm sẵn báo cáo sai rồi buộc vua ký tên vào. Như ông Khang Hy làm vua lúc mới 3 tuổi, nên mọi việc do cận thần sắp xếp, đứng đầu là Ngao Bái nhiếp chánh đại thần quyết định; vì trung thần yếu, còn gian thần, nịnh thần, lộng thần thì mạnh và đông quá, nên vua phải chịu, phải đợi đến khi Khang Hy 12 tuổi mới khôn và trưởng thành. Ông nói rằng ông trưởng thành sớm là nhờ đời trước đã tu làm Sa-môn, nên đời này thiện tâm sở bên trong mạnh; cho nên 12 tuổi mà đã đủ bản lĩnh nắm quyền. Vua Khang Hy mới thấy ai là trung thần, ai là nịnh thần, là gian thần và nhờ trí tuệ sáng suốt mà ông sắp xếp lại việc điều hành triều chính. Phật dạy rằng làm sao trí tuệ sanh ra thì đủ sáng suốt để ta sắp xếp được tất cả những điều xấu ác trong tâm và tạo điều kiện để nó trở thành tốt. Vì vậy, có thể nói tất cả mọi người đều tốt và xấu, nếu biết thì mọi việc sẽ thành tốt, không biết thì thành xấu. Khang Hy nhờ có trí tuệ nên thấy người tốt, người xấu và ông sắp xếp lại đúng chỗ, biến xấu thành tốt, vì hoàn cảnh xấu không có thì không làm xấu được. Hoàn cảnh xấu là vua 3 tuổi chưa biết gì, nên họ làm loạn; nhưng vua 12 tuổi biết rõ mọi việc, mới bắt xử những người xấu thì hết loạn. Chưa biết thì người nịnh nói theo ta, ta thương họ và cất nhắc họ là ta sử dụng người nịnh, nên chết. Có trí tuệ thì dù họ nói gì, ta cũng biết rõ sự thật.

     Đời Đường có vua Đường Thái Tông lên ngôi và sử dụng học giả Ngụy Trưng dám nói thẳng, nói thật, nhờ vậy vua mới biết được việc nên làm, mới có ngài Huyền Trang phát triển Phật giáo. Vua Đường có trí tuệ, nhận thấy người nịnh nói hay, nhưng không thật và vua thấy lộng thần tự bịa chuyện nói là ý chỉ vua để ban chức cho người này người nọ làm xã hội đảo điên. Đường Thái Tông thấy rõ như vậy mới ban lệnh phải sống theo pháp luật, không theo lịnh của vua nữa. Ông vua này rất bình tĩnh và sáng suốt.

     Tâm vương cũng thế, khi tâm chúng ta bình tĩnh, sáng suốt, sẽ nhận thấy những thứ xung quanh tác động chúng ta là 10 triền cái, tức tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ và giới cấm thủ. 10 triền cái này chi phối con người và xã hội. Giới cấm thủ là cố chấp việc nào đó, nên không dám thay đổi. Hoàn cảnh và thời thế thay đổi, nhưng cố chấp là chết. Ví dụ Phật cho 1 y 1 bát, nhưng mùa đông lạnh, Phật cho 3 y để một cái nằm, một cái đắp cho đủ ấm để sống, nếu cố chấp giữ 1 y là chết. Vì vậy, ở cuộc đời này không có gì cố định, phải có trí tuệ thấy sự thật chuyển hóa, thì chúng ta chuyển hóa theo đó. Phật dạy giới định tuệ mà chính tu là dùng định, tức tập trung để phiền não đừng chi phối chúng ta.

     Dùng 11 thiện tâm sở để phá bứt mắt xích của 10 triền cái để tâm chúng ta yên. 11 thiện tâm sở là tín, tàm, quý, vô tham, vô sân, vô si, tinh tấn, khinh an, hành xả, bất phóng dật và bất hại. Người tu phải sử dụng 11 thiện tâm này làm phương tiện tu hành. Tôi vượt khó khăn nhờ sử dụng thiện tâm sở thứ 11 là bất hại, nghĩa là làm gì cũng được, nhưng không hại người. Nếu không làm tốt thì thôi, đừng làm hại, vì làm tổn hại phải bị quả báo. Xưa kia Phật cứu 500 người thương buôn, mà Ngài phải giết tên cướp, nên Ngài cũng phải chấp nhận quả báo này. Vì vậy, khi thành Phật rồi, Ngài cũng bị một nạn cuối cùng là nạn bị thương ở chân, nhưng là trả quả báo nhẹ.

     Trên bước đường tu của chúng ta, quan trọng phải làm sao tránh làm hại người, hại vật; vì làm hại thì sớm muộn gì, quả báo cũng tới. Làm ác nhiều thì quả báo nặng, làm ác ít, quả báo nhẹ. Phải tránh điều hại và hại này, chúng ta phân ra là miệng, thân, hay tâm làm hại. Phật do thân làm hại tên cướp biển, nhưng tâm Ngài không ghét thù hắn. Vì cứu người mà Ngài phải giết hắn, là thân tạo ác nhưng tâm không tạo ác, tức tâm thương người lương thiện bị cướp giết, nên Phật chấp nhận quả báo này. Tên cướp bị giết hận Phật suốt bao nhiêu kiếp cứ theo Phật để báo thù và tâm Phật cũng nghĩ đến tên cướp, nghĩa là vô tình làm hại sẽ gây hối hận suốt đời cho đến nhiều đời. Oan gia này đi theo Phật và chờ cơ hội tốt để trả thù, nhưng không được, vì Phật làm thiện quá nhiều, nên chung quanh Phật, người thiện nhiều, là thường có Thiên long bát bộ bảo vệ. Tâm Phật cũng thiện nhiều, nên quả báo này không xảy ra được. Đến khi Ngài thành Phật phải trả quả báo này, mới khiến có người em họ của Phật là Đề-bà-đạt-đa hại Phật bằng cách xô đá rớt xuống làm chảy máu chân Phật. Lòng Phật thanh thản trả được món nợ xưa. Còn chúng ta vay, nhưng không muốn trả; trong khi Phật luôn tìm cách để trả và Ngài đã trả 8 cái nợ cuối cùng mà Ngài đã vô tình làm khi hành Bồ-tát đạo.

     Tu Thanh văn làm an lạc thì dễ, nhưng tu Bồ-tát muốn chuyển ác thành thiện thì làm sao vừa lòng tất cả mọi người. Nếu chúng ta vừa lòng kẻ cướp thì xã hội này sẽ ra sao. Bắt tập trung cải tạo những người phạm pháp, xã hội mới yên. Hành Bồ-tát đạo là vì muốn người ăn ngon ngủ yên, nên phải bắt trộm cướp, xì-ke; còn con kiến cũng không dám giết thì xã hội sẽ đi về đâu. Chúng ta cần cân nhắc trên bước đường hành Bồ-tát đạo, quả báo càng nhẹ càng tốt, công đức càng nhiều càng tốt. Luôn có tâm bất hại đối với người và vật, nhưng bất đắc dĩ ta mới phải làm tổn hại.

     Tâm thứ hai mà chúng ta phải sử dụng là tâm hành xả, nghĩa là những gì đã qua, chúng ta bỏ qua, tâm chúng ta thanh thản thì huệ mới sanh được. Để tâm thanh thản, trí tuệ sanh, cái gì cũng đưa về quá khứ, để nhìn hiện tại chính xác. Phải hành xả là bỏ, còn làm mà nghĩ đến thành tích, không đi xa được. Cố gắng làm tốt, nhưng xong việc phải bỏ để ta tiếp tục đi tới. Mang bệnh thành tích, làm ít, nhưng kể không hết, thì ai quý trọng được. Vì vậy, suốt đời giúp người, nhưng không để trong lòng và không nói, thì người thọ ơn quý trọng ta.

     Phật nói vô lượng kiếp Ngài đã hành Bồ tát đạo, tạo vô số công đức, nên thấy Phật là chúng ta thương liền. Phật không cần chúng ta biết ơn và trả ơn. Kinh Pháp hoa nói 60 kiếp trước Phật đã độ Xá-lợi-phất phát tâm bồ-đề, nên kiếp này thấy Phật là Xá-lợi-phất đắc quả liền. Riêng tôi, ai thấy tôi mà sanh quý trọng, thì tôi biết đó là bồ-đề quyến thuộc trong những kiếp trước. Ai thấy tôi mà bực bội thì đó là oan gia gặp lại. Oan gia nên giải, còn công đức quá khứ thì nên tiếp tục dìu dắt nhau.

     Tâm hành xả và bất hại quan trọng; ngoài ra, thiện tâm sở đầu tiên là tín, tức niềm tin cũng cần thiết. Vì vậy, chúng ta phải sống thành thật để giữ niềm tin với nhau. Điều gì làm không được thì nói không được, đừng nói mà không làm sẽ làm mất chữ tín thì không ai dùng mình. Niềm tin là mẹ sanh ra tất cả thành công, người làm mất niềm tin không tồn tại được. Trước nhất là niềm tin đối với thầy, bạn thân cận gần gũi với ta, làm việc chung với ta. Những người này không tin cậy nhau thì sớm muộn gì đoàn thể cũng tan rã.

     Niềm tin giữa thầy và bạn mà thầy là Phật, bạn là Bồ-tát. Chọn Phật làm thầy và bạn là Bồ-tát, chắc chắn cuộc đời ta sẽ thăng hoa. Riêng tôi có được trí tuệ sáng suốt là nhờ Phật lực gia bị và việc thành tựu là nhờ Bồ-tát hợp lực. Làm sao gầy dựng niềm tin giữa huynh đệ và nâng lên là Phật và Bồ-tát. Chúng ta sống trong thế giới có niềm tin thì những nịnh thần, loạn thần, kẻ xấu không tác động được và bất cứ ở đâu cũng có bạn tốt, Phật sự thành công.

     Tóm lại, 11 thiện tâm sở luôn áp dụng, thì sẽ có kết quả tốt đẹp. Sử dụng ác tâm sở nhiều thành ma, sử dụng thiện tâm sở nhiều thành Bồ-tát và hoàn toàn thể hiện thiện tâm sở trong cuộc sống thì thành Như Lai. Mong rằng tất cả đệ tử Phật phát huy được thiện tâm sở trọn vẹn để thành tựu quả vị Phật.

Thứ Năm, 28 tháng 3, 2013

Làm Lại Cuộc Đời - HT. THÍCH TRÍ QUẢNG

    Chúng ta ai cũng có ý niệm làm lại cuộc đời là làm sao cho cuộc đời mình tốt hơn. Tôi chia thành nhiều lớp. Lớp thứ nhất là những người cơ nhỡ phạm pháp, mất quyền công dân. Khi phạm phải những sai lầm tội lỗi bị luật pháp ràng buộc, xã hội xem thường thì tự xét nguyên nhân nào đưa đến lỗi lầm đó và chịu hậu quả xấu. Nhận thức như vậy, chuyển hóa sự sai lầm của mình để trở thành người tốt, người bình thường.

     Đối tượng thứ hai, chúng ta không phải là người tội lỗi phạm pháp, nhưng chúng ta tin nhân quả theo Phật dạy. Ngày nay chúng ta được sanh làm người, nhưng thường ốm đau và gặp nghịch duyên, nghèo khó, khổ cực, bị cuộc đời khinh chê thì chúng ta nghĩ ngay đến lời Phật dạy về ba đời nhân quả, do đời trước làm gì đó mà đời này nghèo khổ, bệnh hoạn, xấu xí và bị ghét bỏ. Nhận ra được điều này có nghĩa là làm lại cuộc đời, từ cuộc đời không tốt đẹp, điều chỉnh thành người tốt đẹp. Trong hạng người thứ hai, tôi là một trong những người này. Tôi sanh ra ở vùng quê nghèo, nơi biên địa có chiến tranh. Những khó khổ này tôi suy nghĩ là nhân quả nhiều đời mình có liên hệ với chiến tranh, có liên hệ với nghèo khổ, nên nay mới bị như vậy; nhưng còn chút xíu thông minh để nhận thức được cuộc sống để xóa đi nghiệp ác của mình, thay đổi cuộc sống, từng bước đi lên. Trong hoàn cảnh như thế, tôi nhờ minh sư khai ngộ, ngài nói tuy ở trong hoàn cảnh nghèo và chiến tranh, nhưng chắc chắn có căn lành, vì tôi học kinh rất dễ, khi chưa xuất gia, nghe kinh đã thuộc, nên thầy bảo tôi có căn tu. Nói cách khác, đời trước tôi đã là thầy tu rồi, nhưng nay sanh trong gia đình nghèo ở nước có chiến tranh, tức sanh trong hoàn cảnh không tu được. Vì vậy, nhớ lại đời trước mình là thầy tu, nhưng làm mất bản chất thầy tu, nên nghèo khó, mới làm lại cuộc đời. Và xa hơn, đọc Sám Quy mạng nói rằng: "Tự di chơn tánh, uổng nhập mê lưu, tùy sanh tử dĩ phiêu trầm, trục sắc thanh nhi tham nhiễm…”. Đọc điều này, tự nhận ra được mình là thầy tu, đáng lẽ lên Niết-bàn, Cực lạc, sao lại rơi vào trần gian, vào hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm, chết không biết về đâu, nghĩa là từ nơi tốt mà bỏ đi vào con đường sai lầm giống như biến mình thành người phạm tội. Làm lại cuộc đời là trở lại người bình thường và thứ hai, làm lại cuộc đời là làm người tu. Nguyên nhân là vô minh nổi dậy, một phút lỗi lầm rơi vô hoàn cảnh khổ đau.

     Vì vậy, học Phật, Phật dạy trí tuệ quan trọng nhất của chúng ta. Phát huy được trí tuệ thì trở thành hiền thánh, nhưng mất trí tuệ, xuống thành người tù, hay xuống địa ngục, súc sanh. Có trí tuệ, chúng ta đi lên; không trí tuệ, phạm sai lầm, đi xuống gọi là tự di chơn tánh. Chơn tánh là bản tánh sáng suốt của con người mà chúng ta không giữ được, vì vô minh nổi dậy ngăn che, nên chúng ta phạm sai lầm. Chúng ta nhận ra sai lầm này từ chỗ nào, vô minh là gì. Lòng tham, sự bực tức là vô minh. Tôi nhận ra tánh mình hay nóng, nói tiếng thứ nhất, đến tiếng thứ hai là đánh. Vì nóng, chúng ta dễ phạm sai lầm. Tôi nhớ lúc học tiểu học, lớp 2, tôi bị một anh lớp 3 ức hiếp. Tôi nổi nóng đấm anh bể mũi. Anh này là con của hương quản, nên họ bắt tôi nhốt một ngày. Do nóng giận mất khôn, đánh người, bị nhốt bỏ đói, đó là nóng giận sanh ra vô minh. Nếu bình tĩnh như Hàn Tín biết nhịn chịu cho qua để mưu cầu việc lớn. Từ đó, tôi có nhận thức mới, khi bị ức hiếp, tôi nói hãy đợi đấy, để học xong rồi tính sổ. Bây giờ mình thấp cổ bé miệng, động tay chân dễ ở tù. Nhưng học xong, tu được, dẹp tự ái cá nhân thì vô minh là ý niệm gây sự trả thù cũng hết. Còn đợi cơ hội trả thù thì thù càng chồng chất là oan oan tương báo không chấm dứt. Vì vậy, làm lại cuộc đời là làm lại để thành hiền thánh, gần là làm người tốt, làm thầy tu đúng nghĩa.

    Trên bước đường tu, chắc chắn chúng ta có sơ suất phải trả giá, thì phải có thức tỉnh, sai lầm, làm lại. Trong thời Phật có tướng cướp Vô Não, về sau ông phát tâm đi tu, nhưng đi đâu người ta thấy cũng nghĩ ông là sát nhân, nên đánh ông, dù ông tu rồi, hiền rồi; nhưng ông này quyết tâm làm lại cuộc đời, chấp nhận những gì đổ lên là kham nhẫn, chịu đựng thì cuối cùng, người ta thấy ông hiền. Gốc của ông là hiền, nhưng vì sai lầm mà trở thành sát nhân, nhưng làm lại cuộc đời, chấp nhận mọi khó khăn để thành hiền và đắc quả A-la-hán, được người cung kính. Vì túc nghiệp mà làm một số việc sai, người sẽ đánh giá ta thấp, ta làm lại, nghiệp sẽ thay đổi, trở thành tốt. Trong kinh Bản sanh, Đức Phật cũng nói không phải tự nhiên Ngài thành Phật, Ngài phải trải qua vô lượng kiếp tu hành có phạm sai lầm, nhưng mỗi lần sai có thức tỉnh, có nhận thức mới đi lên được, đó là kinh nghiệm của Phật.
   
  Bồ-tát Quan Âm trong một tiền thân cũng có sai lầm. Ngài nói tiền kiếp xa xưa, ngài từng làm ác quỷ. Ác ma nào cũng có thần thông biến hóa, hay có quyền có thế, có quyền sanh sát. Bồ-tát Quan Âm từng có thần thông, quyền thế, quyến thuộc nhứt hô bá ứng, nhưng vì phạm sai lầm quan trọng, khi có đủ phước báo, người ta thường ỷ lại, nên dễ phạm tội.
   
  Tôi có người bạn đồng tu gặp tôi ở Tokyo, thầy này có quyền thế mới phát biểu rằng vỏ quýt dày có móng tay nhọn, muốn chơi thì chơi cho biết đá biết vàng, cuối cùng vàng và đá cùng vỡ, vì thế lực đụng thế lực thì cả hai cùng tan. Trong thời Chiến tranh lạnh, nếu nước Mỹ và Nga tranh nhau đến cùng thì trái đất này có thể nổ tung. Vì vậy, thế lực càng lớn, quả báo càng lớn.

    Quan Âm xưa tu có quyền lực, có quần chúng, có thần thông, nhưng dựa vào thế lực, quyền năng, quần chúng và trí khôn để khống chế người khác, đưa đến hậu quả là mỗi lần thắng trận mỗi lần tổn tướng hao binh, nên tướng giỏi mất lần, nhưng giặc có người mạnh hơn. TruyệnTam quốc cho thấy lúc thế lực này mạnh lấn át thế lực kia, luôn có sự xoay vần. Người thương Quan Âm lần lần chết, người thù oán mỗi ngày mạnh lên, đưa Ngài vào thế hoàn toàn bị cô lập, không còn ai theo. Nhìn kỹ cuộc sống sẽ thấy như vậy, làm nên sự nghiệp là nhờ phước báo, nhưng trong cách sống, cư xử thế nào mà làm mất lần, cuối cùng người thân không còn, lại chống ta. May mắn là Quan Âm gặp Phật Tổ Như Lai, nên trên đầu Quan Âm luôn có Phật. Khi Ngài hiện hình ông Tiêu cũng có Như Lai, tức sa cơ đọa địa ngục mới gặp Như Lai, còn quyền thế thì không nghe ai. Sa cơ mới thấy Như Lai xuất hiện là điểm đặc sắc của đạo Phật.

    Đọc cuộc đời hành đạo của ngài Ưu Ba Cúc Đa, ngài gặp người thí chủ giàu có thỉnh về cúng dường, nhưng ngài nói chưa đúng lúc, không nhận. Đến khi bà này sa cơ, bị thải ra bãi tha ma thì ngài tới độ. Bà nói không có gì cúng dường ngài, nhưng ngài nói bây giờ mới đúng lúc là bà còn có niềm tin, nên tôi đến, lúc có tiền có thế lực thì chưa có niềm tin.

     Khi Quan Âm bị đọa, thì Như Lai xuất hiện, hay tôi phát tâm thọ trì kinh Pháp hoa từ năm 1963. Lúc đó tôi bị bắt biệt giam, tôi nghĩ mình không còn gì, nhưng đối với tôi còn Phật, còn niềm tin với Phật. Tận cùng khổ đau, ta có thể phát tâm, Quan Âm nói như vậy, khi ngài còn thế lực thì không phát tâm. Thế lực cạn kiệt mới phát tâm, hay thấy Như Lai, tức có huệ Như Lai sáng lần trong đầu. Nhờ ánh sáng trí tuệ rọi, ta thấy sai lầm từ trước. Công đức đã tạo mới có sự nghiệp, nhưng vì si mê sai lầm nên đánh mất phước đời trước và bị đọa địa ngục. Lúc đó, nhờ có ánh sáng trí tuệ Như Lai rọi vào đầu Quan Âm, Ngài thấy khác là thấy quyền lực quyền năng đều hại người. Chỉ có tình thương quan trọng. Vì vậy, Quan Âm mới phát tâm đại bi, có ý niệm thương người, giúp người dù gặp bất cứ ai cần đến Ngài, đó là nguyện của Quan Âm, không còn ý niệm hại người. Thế lực ác ma là có quyền lực thì ai không theo sẽ giết, nhưng bỏ ý thức giết người mà chuyển thành thương người, là Quan Âm làm lại cuộc đời.
    
    Tuy nhiên, bắt đầu làm lại cuộc đời, túc nghiệp đã có nên phải trả giá. Còn có sẵn phước thì đi lên dễ. Đánh mất, làm lại khó; chưa lỗi lầm, người chấp nhận ta dễ, nhưng ta có lỗi rồi mà muốn người chấp nhận ta tốt, ta phải có sự thay đổi lớn trong cuộc sống. Vì vậy, hư rồi, tạo được lại uy tín khó. Quan Âm phát tâm đại bi, có ý thức cứu giúp người, nên kham nhẫn chịu đựng được những gì đổ lên Ngài. Thực tế cho thấy chúng ta muốn giúp, nhưng họ không cần, xem thường ta, nhưng ta vẫn chấp nhận và giúp là theo hạnh Quan Âm. Bình thường làm tốt dễ, nhưng nay ta muốn làm tốt, họ cũng không chấp nhận vì ta có sai lầm, ta làm lại, nên phải trả giá. Vì vậy, bình thường chúng ta thấy người muốn làm lại, nhưng gặp nghịch duyên thì họ không làm nữa. Nhưng ta theo hạnh Quan Âm, phát tâm cưu mang giúp đỡ, sẵn lòng muốn làm lại thì phải làm đến nơi đến chốn là phát đại bi tâm, giúp cách này không được, ta có cách khác. Ta nói họ không nghe, tìm người khác nói cho họ nghe. Quan Âm muốn cứu giúp chúng sanh, chỉ có mục tiêu duy nhất đó thôi, nên nay Ngài cứu một người, mai giúp một người, lần lần người thân thiện với Ngài, nên số người này càng đông càng làm được việc lớn. Số người thương Quan Âm và theo Ngài là Quan Âm biến thành người có một ngàn mắt, một ngàn tay, nghĩa là ta có thêm một người bạn tốt là ta thêm một cánh tay, thêm một con mắt. Thí dụ tôi ngồi ở đây, ở chùa Ấn Quang có người thương tôi thì người nào nói xấu tôi, muốn hại tôi, tôi cũng biết. Tôi làm được việc là nhờ như vậy. Một mình không làm được gì, nhưng chung quanh mình có nhiều người thương hợp tác thì có bao nhiêu người là ta có thêm bao nhiêu cánh tay, bao nhiêu đôi mắt. Phật nói Quan Âm là thế, cùng tột khổ đau nhận ra được là nhờ Phật huệ thấy biết việc nào làm người khác chấp nhận, người khác được lợi ích thì Ngài làm.

     Làm lại cuộc đời là phục hồi uy tín mà Bồ-tát Quan Âm đã thành công và ta làm theo Quan Âm cũng sẽ thành công. Muốn làm ác ma, ai nghịch, ta hại họ, cho đến người thân mà ta cũng nghi ngờ và hại họ, thì làm sao ai chung sống với ta. Quan Âm tu hạnh đại bi, dù chúng sanh cang cường, Ngài cũng hạ quyết tâm cứu giúp, bây giờ không được, ngày mai cũng phải được, là ý nghĩa độ tận chúng sanh. Vì vậy, Đức Quan Âm có mười hai nguyện ứng vô tâm đại bi của Ngài, nên Ngài trở thành Bồ-tát vạn năng được tất cả mọi người kính trọng. Học hạnh Quan Âm, chúng ta phải có lòng từ bi, sẵn lòng giúp đỡ người khó khăn, thì đồng hạnh với Quan Âm, ta sẽ nhận được lực gia bị của Ngài trên bước đường làm việc từ thiện lợi ích cho xã hội.

Nguồn: chuahuenghiem.net

Thứ Ba, 26 tháng 3, 2013

Xây Dựng Tương Lai Trong Phật Pháp - HT. THÍCH TRÍ QUẢNG


    Trong hiện đời này, chúng ta phát tâm Bồ-đề hành Bồ-tát đạo nhằm mục tiêu xây dựng tương lai tươi sáng trong Phật pháp, hoặc xây dựng con đường đi về Tịnh độ của chư Phật, hay về Niết-bàn. Còn chúng ta xây dựng tương lai ở trần gian trong cuộc đời giả tạm này thì có sanh có diệt, chúng ta làm gì thì cuối cùng cũng hoàn không. Vì vậy, chúng ta không bận tâm đến xây dựng tương lai trong cuộc đời, mà lo xây dựng tương lai trong Phật pháp và nếu chúng ta thành công, tạo được tương lai tươi sáng trong Phật pháp thì cuộc đời này cũng sẽ tốt đẹp theo, vì chánh báo của chúng ta ở đâu thì y báo ở đó. Cho nên, lo xây dựng tương lai là xây dựng chánh báo, vì chánh báo xấu thì y báo không thể tốt đẹp.

        Phật dạy vì tham vọng của con người, gọi là lòng tham không đáy, không bao giờ thỏa mãn được, nên họ luôn thấy thiếu thốn. Thử nhìn lại cuộc sống vật chất và tinh thần, chúng ta có thiếu thốn hay không. Thiếu vật chất cũng khổ, nhưng không bằng thiếu thốn tinh thần. Có người vật chất đầy đủ, nhưng lòng họ luôn khổ, gần nhất chúng ta thấy một vài tổng thống giàu nhất nhì thế giới, quá dư thừa của cải vật chất, nhưng họ rất khổ tâm, từ khổ tâm do tạo nghiệp, nên phải trốn chui, vì chạy theo vật chất, nên phải khổ với vật chất. Ngược lại, đối với người thiếu vật chất, nhưng tinh thần đầy đủ, Phật nói rằng họ không thiếu bất cứ thứ gì, vì trong lòng họ không ham muốn thì vật chất có hay không đối với họ vẫn bình thường.

         Trong đạo Phật, xây dựng cho mình tương lai thực sự, Phật dạy phải diệt dục là chấm dứt lòng ham muốn. Làm sao cho tương lai hết khổ. Phật đã hỏi Tịnh Phạn vương như vậy, ông không trả lời được. Phật ngồi Bồ Đề Đạo Tràng khám phá được rằng diệt dục, không ham muốn là không khổ, còn ham muốn nhiều khổ nhiều, ham muốn ít khổ ít. Tương lai làm sao phải diệt dục mới hết khổ, mới thành Phật. Tương lai của chúng ta là Niết-bàn là hết khổ. Bước đầu, Phật dạy hạn chế ham muốn, khác với chấm dứt ham muốn, nên Ngài dạy tam thường bất túc là hạn chế ba việc ăn, mặc, ở. Đương nhiên việc thế gian chúng ta cắt, nhưng còn ăn, mặc, ở, thiếu một chút vẫn sống được. Thật vậy, cần một chỗ ở tương đối, hay thiếu một chút thì ai cũng có được. Chúng ta có một chỗ ở khiêm tốn, chỉ cần căn phòng ba mét vuông cũng đủ ở. Ở Nhật, tôi từng ở phòng như vậy, chỉ đủ để một tấm nệm, một cái chăn và một ít sách là đời sống bất túc khiêm tốn nhất. Khá hơn, thuê phòng 12m đến 16m vuông, còn giàu có đòi hỏi thì vô cùng vô tận, phải lo chi trả cho chỗ ở đắt tiền, nên bao giờ họ cũng thấy thiếu. Các sinh viên khác thuê phòng trọ một tháng 15.000 yên, trong khi chỗ ở của tôi rẻ tiền nhất, chỉ trả 3.000 yên một tháng vẫn ở được, học được là kinh nghiệm tôi hạn chế chỗ ở nên chi phí này không lo, thì học bổng ít mà vẫn có dư tiền. Nhờ vậy, tôi trở thành người giàu có vì giúp đỡ được cho người khác. Còn những sinh viên là con của tướng tá, bộ trưởng tuy nhiều tiền, nhưng thiệt nghèo, vì xài hoang phí, nên lúc nào cũng thiếu nợ, phải mượn tiền tôi, họ nói tôi tu không biết xài tiền. Không biết xài tiền, mới tích lũy được công đức. Hạn chế chỗ ở, tâm được nhẹ nhàng, coi phòng ở là chỗ trọ qua đêm, sáng thì đến trường và cuộc đời này cũng là quán trọ, nên chi phí ít để có thì giờ học nhiều.

         Vấn đề thứ hai là ăn là điều tối thiểu của con người, nên biết rằng không cần ăn nhiều, ăn chỉ đủ để sống. Tôi gầy nhờ ăn kiêng, nhưng khỏe. Ăn nhiều béo phì phải uống thuốc. Nhiều người thưa với tôi rằng họ mập nhưng khổ lắm vì đau nhức. Rõ ràng vì họ ăn thừa chất bổ, thừa đạm nên bị nhức mỏi. Có người bị bệnh tiểu đường nói rằng họ khổ vì thèm ăn ngọt, nhưng ăn đường vô là chết. Như vậy, việc ăn kiêng của tôi là hợp lý, nếu ta không biết thì phải nhờ bác sĩ hướng dẫn. Bác sĩ bảo tôi lớn tuổi không nên ăn nhiều chất béo, chất đạm, chất đường. Nếu đói, ăn bột ngũ cốc, tuy gầy, nhưng sẽ không bị bệnh, hay ít bệnh. Có một lần tôi bị gai ở cổ, cúi xuống khó, bác sĩ bảo nên ăn lúa mạch, đừng ăn cơm, chỉ cần điều chỉnh một chút vấn đề ăn uống là khỏe lại. Nên nhớ rằng tuổi càng lớn, nên càng ăn ít, tuổi nhỏ cần phát triển cơ thể thì phải ăn đầy đủ. Từ 40 tuổi trở lên, nên hạn chế ăn thì bao tử nhỏ lại, không ăn nhiều được nữa là kinh nghiệm của thiền sư. Ăn nhiều, bao tử giãn ra, lúc nào cũng thấy đói. Hạn chế được ăn, chúng ta đỡ đau. Ăn vừa đủ, hay ăn thiếu một chút, sẽ cảm thấy nhẹ nhàng. Ngoài ra, hạn chế vấn đề mặc, chúng ta đỡ tốn kém.

         Ba điều căn bản trong cuộc sống là ăn, mặc, ở mà hạn chế được thì chúng ta có thặng dư và sử dụng số dư này để đổi ra phước báo vô lậu. Còn ăn, mặc, ở tốn kém nhiều, ta mắc nợ cuộc đời nhiều, thì ra đi không có hành trang, sẽ trở thành người nghèo khổ. Giảm thiểu ăn mặc ở và đổi thặng dư ra công đức là phước đức và trí tuệ, làm như vậy là xây dựng tương lai. Tương lai của ta tốt do phước đức nhiều và trí tuệ sâu. Như vậy, xây dựng tương lai là lo tích lũy công đức. Thuở nhỏ, mới tu, tôi lập chí nhường tất cả mọi thứ cho cuộc đời, nhưng trừ trí tuệ, học vấn thì không nhường, không biết thì phải học. Xây dựng tương lai là một tương lai có trí tuệ. Phật hơn tất cả mọi người ở Chánh biến tri, tức Ngài thấy biết người và sự việc một cách chính xác.

         Giai đoạn một, phải lo học hành, xây dựng tương lai là vậy. Tuổi trẻ học giỏi, không phạm lỗi lầm, chắc chắn tương lai trong sáng, được đắc dụng. Còn trẻ mà đạo đức kém, học dở là tự khóa tương lai của mình. Vì vậy, xây dựng tương lai bằng cách phát huy trí tuệ và tránh những lỗi lầm. Nếu lỡ phạm lỗi, người chỉ dạy, chúng ta phải sửa ngay, là xây dựng tương lai tốt. Đến khi trưởng thành tiến sang bước thứ hai, uy tín có, vì chúng ta có học thức và đạo đức, đó là cơ hội tốt để dấn thân hành đạo, nên đem tất cả tài chí để phục vụ. Có người có bằng cấp, nhưng treo để khoe, chứ không làm được việc. Cơ hội có, đem tất cả sở tồn đóng góp hết sức mình làm lợi ích cho đời. Bước qua giai đoạn ba quy định từ 60 tuổi trở lên, cuộc đời còn lại, chúng ta lo cho tương lai xa, nghĩa là lo cho kiếp lai sanh; vì chúng ta biết cánh cửa của cuộc đời này sắp đóng lại, chúng ta tìm cách mở cánh cửa cho kiếp sau.

         Tất cả Bồ-tát tái sanh đều có chuẩn bị đầy đủ. Các ngài sanh trên cuộc đời này, làm đúng những gì đã hoạch định và làm xong, nghĩ đến tương lai là bỏ thân tứ đại này sẽ sanh ở đâu, làm gì, đây cũng là điều quan trọng mà chúng ta cần suy nghĩ. Bồ-tát coi cuộc đời của con người là một mắt xích từ vô thỉ cho đến bây giờ và từ bây giờ đến tương lai nối tiếp nhau. Tất cả những gì quá khứ hiện hữu ngay trên cuộc đời và những gì đang có sẽ là nhân cho đời sau. Phật tử lớn tuổi có duyên làm việc, hết duyên, thì chuẩn bị cho đời sau sẽ sanh ở đâu. Chúng ta coi lại kho tàng giáo lý mà Phật và chư vị Tổ sư giới thiệu để lựa chọn. Chúng ta chọn Niết-bàn hay Tịnh độ, tức chúng ta muốn nghỉ ngơi; nhưng nếu chọn sinh mạng tương tục của Bồ-tát hành đạo thì chọn chỗ tái sanh trên cuộc đời cho đến khi thành Phật. Như vậy, chuẩn bị cho chuyến đi xa của chúng ta, ai cũng phải ra đi thì phải có đích đến là đời sau tái sanh lại Ta-bà hành Bồ tát đạo, hay là về Tịnh độ, Niết-bàn. Có Hòa thượng chuyên tu Tịnh độ nói rất dễ thương rằng ngài muốn sanh Tịnh độ, nhưng về với Phật Di Đà vài hôm thôi, rồi sẽ trở lại Ta-bà cùng với quý Thầy làm việc. Có Hòa thượng khác thì nói rằng sợ thế giới này, nên dứt khoát không trở lại, nhất định lên Niết-bàn. Còn con đường thứ ba là chấm dứt cuộc đời thì sẽ quán sát xem tái sanh ở đâu, làm gì; đó là con đường Bồ-tát đạo của kinh Pháp hoa. Người tu Pháp hoa không về Tịnh độ, không về Niết-bàn, mà hành Bồ tát đạo ở Ta-bà, quyết lòng tế độ chúng sanh từ đời này đến kiếp khác, cho đến thành Phật. Con đường này của Bồ-tát Đại thừa có chuẩn bị đầy đủ là xây dựng tương lai, tái sanh ở đâu, làm gì. Tìm chỗ tái sanh có quyến thuộc Bồ-đề, hay có Phật, hoặc có nhiều thiện hữu tri thức mới làm đạo được. Còn tái sanh vào nhà ngoại đạo, hay vào những xứ không biết tu hành theo Phật pháp, chúng ta sẽ mất kiếp. Vì vậy, điều quan trọng nhất là duyên trong Phật pháp phải có gọi là tương tục duyên, nếu chúng ta sơ suất một lần sẽ mất lực, sơ suất hai ba lần sẽ mất kiếp luôn; cho nên con đường này rất nguy hiểm.

         Tôi bảo Phật tử nên tụng Pháp hoa để Bồ-tát tái sanh Ta-bà làm đạo, nghe kinh thì sanh lại làm con cháu chúng ta để khỏi mất kiếp. Thật vậy, sau khi chết, nghe chỗ có tụng kinh, chúng ta vô, chỗ có chùa, chúng ta tới. Tuổi lớn, buông bỏ thế sự, gần gũi chùa và chư Tăng, nghe tụng kinh, tiềm thức có sẵn thì ngủ mơ nghe pháp, tụng kinh chúng ta cũng tìm đến là con đường thứ ba mở ra. Nếu còn sống, mà bị bệnh, không về chùa được, nhưng tha thiết muốn về Thầy, thì bỏ thân này là về chùa liền. Nhưng nếu chúng ta đi lạc một lần là đánh mất một kiếp thì Thức của chúng ta sẽ bị yếu đi;thí dụ, lỡ sanh vào loài súc sanh, không nghe pháp được, không tu hành được, hoặc sanh vào nhà ngoại đạo bị nhồi nhét tà kiến, niềm tin Phật của chúng ta bị yếu đi. Vì vậy, tu hành chọn con đường thứ ba phải có định hướng rõ ràng là chết về đâu, mà đã chọn là phải có hướng tâm về đó. Thí dụ ở Việt Nam, Phật giáo đang thạnh, sau khi chết, tái sanh vào nước Việt Nam, vô gia đình có niềm tin Phật và tương đối có đạo đức, có trí tuệ, thì chúng ta sẽ phát triển con đường tu của mình dễ dàng, vì từ nhỏ, chúng ta đã được đi chùa, nghe pháp, chúng ta sẽ không bao giờ mất kiếp. Tái sanh ở thành phố Hồ Chí Minh có nhiều chùa, nếu thần thức đến chùa, thấy người mình quý trọng thì theo về nhà họ để sanh lại là vô nhà Phật giáo. Tôi nghĩ đời trước mình cũng từng tu, nên cha mẹ tôi lên chùa cầu phước, tôi theo về thấy nhà biết tụng kinh. Như vậy, có định hướng tái sanh, chọn chỗ ta thường tới đó tụng kinh, tìm bạn tri thức để ta sanh vào nhà họ. Còn có người cũng đi chùa, nhưng cảm giác giữa mình và chùa xa lạ, không được bạn bè chấp nhận, thì chết họ bơ vơ, vì còn sống đã lạc lõng.

         Định hướng đầy đủ, trở về chùa, tái sanh lại không mất kiếp, sẽ tiếp tục tu. Câu chuyện sau liên hệ đến Hoằng Nhẫn đại sư nói lên ý này. Ngài Đạo Tín muốn truyền pháp cho ông, vì ông đắc đạo, nhưng ông lớn tuổi hơn, nên lỡ ông chết trước thì không nối dòng pháp được. Hoằng Nhẫn nói rằng "Thầy chờ con” là ông tìm chỗ sanh vô, đến gia đình đó thấy có nhân duyên với cô gái nên xin cho ở trọ một đêm. Cô gái bảo ông hãy xin phép bố mẹ cô. Ông nói cô bằng lòng là được. Bấy giờ Hòa thượng tự té xuống chết tại chỗ, liền tái sanh vô nhà này, nên cô gái không chồng mà có mang và sanh ra đứa con. Cô bực quá ném đứa con xuống ao, rớt lên lá sen trôi đến trước cửa chùa. Ngài Đạo Tín bế đứa bé về nuôi là hậu thân của Hoằng Nhẫn. Ngài Hoằng Nhẫn tuổi nhỏ nhưng rất thông minh và được Đạo Tín truyền pháp. Đó là cách chọn chỗ tái sanh của Tổ Hoằng Nhẫn. Trên thực tế, chúng ta thấy các vị Lạt-ma Tây Tạng thường chọn chỗ tái sanh là một trong những cách xây dựng tương lai trong đạo pháp, không bị mất kiếp để tiếp tục tu hành cho đến thành tựu Phật quả.

Nguồn: chuahuenghiem.net

Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2013

Tàm Quý - HT. Thích Trí Quảng


     Tàm quý là một trong những hạnh tu của Đức Phật. Theo Thế Thân Bồ tát, tàm quý là một trong 11 thiện tâm sở. Trong Duy Thức học, Ngài Thế Thân chia tâm của con người thành 100 pháp và Ngài viết bộ Đại thừa Bách Pháp Minh luận để lý giải về các dạng thức của tâm và sự linh hoạt của nó. Ngài chia chẻ tâm chúng ta thành 100 phần và con số 100 tính theo cấp số nhân thành vô số, nhưng gom lại thì có 100 để phân biệt trong tâm, cái nào tốt thì phát triển, cái xấu thì đoạn trừ. Đức Phật cũng đã thể nghiệm điều này một cách trọn vẹn, nên Ngài trở thành Đấng Đạo sư hoàn thiện.

     Tàm quý là thiện tâm sở, vô tàm quý là ác tâm sở. Trong tâm của con người có thiện ác lẫn lộn. Người biết tàm quý gọi là người thiện, người không biết tàm quý là người ác. Tàm quý hiểu thông thường là xấu hổ, hổ thẹn. Người biết hổ thẹn với lương tâm mình khi làm điều sai trai là người có hạnh tàm quý. Còn làm sai trái, nói sai trái, nghĩ sai trái mà không xấu hổ là người không biết xấu hổ.

     Tàm quý hay vô tàm quý là thiện ác từ trong tâm chúng ta. Đức Phật dạy rằng tâm rất quan trọng; theo kinh Hoa Nghiêm, tâm sinh ra vạn pháp, tức sinh ra muôn pháp lành hay muôn pháp ác. Vì vậy, từ tâm không biết xấu hổ, người ta dễ dàng buông ra lời nói xấu ác và hành động ngông cuồng, việc làm sai quấy, mà họ vẫn xem thường; nhưng họ chỉ lừa dối được một số người, chứ không thể lừa dối tất cả mọi người, lừa dối được một lúc, chứ không thể lừa dối được trọn đời. Đức Phật nói ác ma khác với Ngài ở điểm họ chuyên môn lừa dối và không bao giờ biết xấu hổ với hành động sai quấy. Còn Phật thì ngược lại, Ngài luôn sống với hạnh tàm quý, nghĩa là Ngài luôn gạn lọc, cân nhắc, sửa đổi từ ý nghĩ, việc làm, cho đến lời nói.

     Khi biết tàm quý, nếu bị người xem thường, chúng ta sẽ nghĩ lại xem mình đã làm gì, nói gì khiến cho người ta xem thường mình. Ví dụ trong lớp học có người không biết tàm quý, tức họ không biết nhìn xem thái độ của người xung quanh đối với mình như thế nào để tự sửa mình, mà cứ nghĩ mình tốt, mình giỏi. Người như vậy vào đạo tràng tìm chỗ tốt mà đứng, không biết nhìn trước nhìn sau coi mình là ai. Nếu lỡ đứng trước người được kính trọng mà không biết tàm quý, lại còn hãnh diện được đứng trước. Nhưng người biết tàm quý thì sợ tổn phúc vì đứng trước người tuổi tác lớn, đạo đức hơn mình. Không biết tàm quý thì người xung quanh liếc mắt với mình, ý nói mình phải lùi phía sau để nhường cho người lớn tuổi, mà mình cũng chưa xấu hổ, không chịu nhường, đến khi người giữ trật tự đến kéo mình lại phía sau, mình cũng chưa chấp nhận, còn đứng lại cãi.

     Người tu biết xấu hổ, vào đạo tràng, biết mình đứng chỗ nào. Đứng đúng chỗ, nói đúng chỗ, ngồi đúng chỗ, mọi người chấp nhận dễ, không có vấn đề gì xảy ra, thì đạo tràng được thanh tịnh. Tâm chúng ta phải nhận biết như vậy. Lỡ đứng trước người lớn tuổi, nếu có tâm tàm quý, phải quay lại xin lỗi họ; đó là biết tàm quý đối với mọi người, đối với xã hội. Tuy nhiên, cái biết tàm quý này cũng chưa đủ, còn phải biết tàm quý với lương tâm mình, vì sự phán xét của xã hội có lúc đúng lúc sai; trong khi cái biết của lương tâm luôn luôn đúng. Lương tâm là tâm lương thiện, là tâm tốt lành; nhưng vì người chưa phát hiện được tâm thiện này, cho nên họ phạm nhiều sai trái. Vì vậy, hạnh xấu hổ với lương tâm mới quan trọng. Từ thuở nhỏ tôi đã cố gắng thực hiện hạnh tàm quý đối với lương tâm mình. Thật vậy, khi mặc áo tu, gặp người lớn tuổi hay bằng tuổi tôi mà họ chắp tay xá chào tôi và nói thưa Thầy, thì lúc đó tòa án lương tâm tự xét lại coi mình có phải là Thầy người ta hay không, mà Thầy ở chỗ nào. Quán sát như vậy, tự thấy xấu hổ với lòng mình, vì thấy không xứng đáng là Thầy người ta mà họ lại cung kính mình là Thầy. Trong các buổi sinh hoạt xã hội, với người gọi tôi bằng Thầy, tôi thường suy nghĩ điều này, hoặc gặp bạn đồng học gọi tôi là anh, tôi thấy bình thường, vì cùng học một lớp thì làm sao làm Thầy họ được. Có những người bạn không biết xấu hổ, lúc nào cũng nghĩ họ là Thầy của thiên hạ; đối với người có tuổi tác đáng là anh, là cha mẹ, là ông bà, mà họ cũng dám xưng Thầy. Tôi lỡ xưng Thầy với ai thì thấy xấu hổ.

     Vì vậy, khi người đối xử không tốt với ta, xem thường ta thì quý vị nghĩ thế nào. Theo tôi, khi đó họ thấy con người thật của mình không phải là Thầy, nhưng mình cứ lầm tưởng mình là Thầy, nghĩa là mình không dạy được điều gì cho họ, không làm gương tốt cho họ, mà đòi hỏi họ cung kính mình, là sai lầm lớn. Biết như vậy, mình phải tự xấu hổ với mình. Hoặc ta lớn tuổi, tu lâu, hay vào đạo tràng lâu, mà người mới vào đạo tràng, người nhỏ tuổi hơn cũng không kính trọng mình được. Nếu ta tự ái, nghĩ mình lớn tuổi, tu lâu là chắc chắn ta rơi vô ngã mạn, tăng thượng mạn thuộc phiền não; cho nên ta đi theo con đường này sẽ bị phiền não dẫn vào lưới ác ma và trở thành ác ma. Nếu gặp tình huống như vậy, chúng ta phải tự giựt mình, suy nghĩ tại sao ta lu lâu, tuổi lớn hơn, nhưng không bằng người mới tu, không bằng người nhỏ tuổi hơn mình. Khi nhận ra rằng tuy tuổi lớn, nhưng hạnh ta chưa lớn, ý ta chưa lớn, đức ta còn nhỏ, cho nên ta cảm thấy tự xấu hổ và nỗ lực vươn lên. Biết tàm quý và biết khắc phục, sửa đổi lời nói, hành động, việc làm cho tốt thì có thể thăng tiến trên con đường đạo hạnh. Và từ đó, chúng ta mới phát hiện điều mới theo tinh thần Đại thừa không căn cứ trên tuổi tác, không căn cứ trên thời gian tu trước hay sau, nhưng căn cứ trên chỗ ngộ.

     Người ngộ tánh là nhận ra tánh sáng suốt của mình, tu hành hơn nhau ở điểm này. Đối với người có tuổi đời tuổi đạo nhỏ hơn ta, tuy họ mới tu, nhưngcó đạo đức lớn hơn ta, có trí tuệ thẩm sâu hơn ta và họ ngộ tánh, ta nên sanh tâm kính trọng họ. Theo tinh thần Pháp Hoa, trên dòng sinh mệnh tương tục, người ngộ tánh hay đã có quá trình tu hành nhiều đời, cho nên đời này còn nhỏ tuổi, mà họ rất thông minh, đạo đức cao và nhận thức sáng suốt. Các Lạt ma Tây Tạng tu Kim Cang thừa thường căn cứ vào chỗ ngộ tánh sáng suốt và có đạo hạnh cao, vượt hơn người, còn tuổi lớn nhỏ không quan trọng. Khi tôi sang dự diễn đàn Phật giáo ở Trung Quốc, gặp vị Lạt ma Tây Tạng được nhân dân Tây Tạng kính trọng dù tuổi đời mới ngoài 20 và các vị trưởng lão tôn túc 60, 70 tuổi cũng kính trọng vị Lạt ma rất trẻ này; đây là việc vô cùng quan trọng trên bước đường tu. Tôi hỏi tại sao các vị lại kính trọng vị nhỏ tuổi này. Họ trả lời rằng tu Kim Cang thừa không căn cứ trên tuổi lớn nhỏ, nhưng quan trọng ở trí tuệ, nghĩa là làm Thầy trí tuệ của chúng ta, có khả năng khai ngộ chúng ta, có khả năng truyền đạt trí tuệ của Phật cho chúng ta.

     Kim Cang thừa thuộc Mật tông nhắm vô tam mật gia trì là chính, nghĩa là thân khẩu ý của chúng ta đều là Mật, không phải chỉ bắt ấn khuyết theo hình thức mới là Mật. Ấn khuyết thực chất là dụng của Tỳ Lô Giá Na, dụng của trí tuệ. Nếu bắt ấn mà không có dụng thì chỉ là hình thức mà thôi. Bắt ấn của hành giả phải phát xuất từ Pháp thân Tỳ Lô Giá Na, hay từ tánh sáng suốt bên trong và tạo thành ấn khuyết bên ngoài, gọi là thể và dụng tương ưng. Dụng có từ thể, thể là nguồn gốc phát ra dụng. Ví như máy phát điện nổ mới có dòng điện. Vì vậy, tu Kim Cang thật khác với tu hình thức.

     Đầu tiên phải ngộ Tỳ Lô tánh, tức bản tánh sáng suốt của con người. Ai ngộ tánh này là Thầy, là Phật. Tuy Phật, chúng sinh và tánh là một, nhưng khác nhau ở ngộ hay không ngộ. Giờ trước chưa ngộ tánh Tỳ Lô là chúng sinh, như Phật Thích Ca khi chưa ngộ tánh là Sa môn Cù Đàm, đến khi Ngài ngộ tánh Tỳ Lô Giá Na thì Ngài hiện thân là Thích Ca Như Lai. Lúc Phật chưa ngộ, năm anh em Kiều Trần Như không kính trọng Ngài như bậc Thầy của họ; nhưng Ngài thành Phật, tức ngộ được chơn tánh thì năm người này trông thấy Ngài, tự động họ kính lễ. Như vậy, "Ngộ” nằm trong sự chuyển hóa, chuyển vật của Như Lai, là dụng của Tỳ Lô tánh.

     Ấn khuyết phát xuất từ tánh bên trong. Hãy hình dung những gì hiện hữu chung quanh tánh sáng suốt này, mà kinh thường gọi là Mạn Đà La, trong đó Pháp thân là Trí, hiện ra Báo thân viên mãn, nghĩa là từ Tỳ Lô tánh hiện ra Tỳ Lô thân là Báo thân viên mãn được kết hợp bằng phước đức trí tuệ vẹn toàn. Nhưng do đâu mà có phước đức và trí tuệ viên mãn. Phước đức trí tuệ này do quá trình thể nghiệm hạnh Bồ tát trải qua nhiều đời; nhờ vậy mà tạo thành quyến thuộc tài giỏi. Nói cách khác, ta từng cưu mang, giúp đỡ, dạy dỗ bao thế hệ thì có bấy nhiêu người tài đức hiện hữu chung quanh mình, mà chúng ta ngộ được Tỳ Lô tánh mới thấy được người tài đức ở xung quanh mình.

     Và ứng Tỳ Lô dụng là ấn khuyết, nghĩa là ta chỉ dạy cho mọi người làm theo ý mình. Còn người tu bắt chước, cũng bắt ấn chỉ bốn phương tám hướng, nhưng chung quanh họ không có người tài đức hỗ trợ thì cũng không có tác dụng gì. Ví dụ Hòa thượng Trí Tịnh ở trong Thiền thất, không thuyết pháp giảng kinh, nhưng Ngài chỉ định mỗi Thầy làm một việc và tất cả các Hòa thượng, Thượng tọa nhận giáo chỉ của Ngài mà làm thì mọi việc đều thành công.

     Ngộ Tỳ Lô tánh, hiện Tỳ Lô thân, ứng Tỳ Lô dụng, tạo thành trí giác và uy đức lãnh đạo được đại chúng; cho nên không căn cứ trên tuổi tác và thời gian tu lâu mau.

     Trở lại hạnh tàm quý, biết tự sửa đổi sai lầm của mình cho đến khi người khác chấp nhận mình, thì từng bước thăng hoa được. Riêng tôi, mỗi lần gặp việc không giải quyết được, tự thấy xấu hổ rằng mình chưa đủ tài đức, cần phải nỗ lực tiến tu, ngày nay chưa được thì ngày mai phải được. Nỗ lực tu hành là tạo thành người đức hạnh và có cái nhìn chính xác, thì các Thầy không chống đối nữa, mà phải chấp nhận tôi. Trái lại, không biết xấu hổ, mà muốn áp đặt, buộc người nghe theo mình, chắc chắn không thể làm đạo lâu dài.

     Hạnh tàm quý là thiện tâm sở rất quan trọng; vì không có hạnh này, người ta dễ tạo tội lỗi và đi vào thế giới ác ma. Cảm thấy xấu hổ khi người xem thường mình, cảm thấy xấu hổ khi được người kính trọng, nhưng thực sự mình không đáng được kính trọng. Biết xấu hổ thì tiến tu được. Dẹp được tâm vô tàm vô quý, trí tuệ chúng ta sáng lần, thấy được việc chính xác hơn; với tâm trung thực, chúng ta mới nhận ra sai lầm của mình trước kia. Trên bước đường hành đạo, có lúc tôi gặp những điều không bằng lòng, chán nản cũng muốn bỏ cuộc. Tâm trạng này tôi đã có 40 năm trước, nhưng nhờ chán nản này, tôi mới sang Nhật tu học và khi bình tĩnh lại, học được, nhìn lại thấy thời đó mình còn quá nông nổi. May nhờ Phật cứu, tôi tìm đường đi tới còn được; trong khi những người bất mãn bỏ cuộc thì cuộc đời trở thành mai một.

     Từ đó về sau, tôi luôn cân nhắc, xem người đối xử với mình mà tự thấy xấu hổ và tự sửa đổi. Tự sửa đổi bằng cách nào? Khi bị người chê, mà ta nói xấu lại, thì phải thấy mình có lỗi và tự sửa đổi; làm như vậy; từ từ bạn sẽ tốt lại với mình. Tôi thấy hạnh xấu hổ giúp mình tiến bộ. Còn được người tin tưởng, đề cao, nếu ta hãnh diện, sung sướng, sẽ rơi vào ngã mạn, tăng thượng mạn là phiền não. Tổ Phi Lai dù đã ngộ tánh, biết rất nhiều việc, nhưng người ta kính trọng Ngài là người hiểu biết rộng, Ngài cũng từ chối, nói "Không dám”. Người ta đề cao, Ngài vẫn khiêm tốn. Những điều Ngài tiên đoán như thần, nhưng Ngài nói rằng đó là nhờ Hộ pháp mách bảo trong giấc mơ, không dám tự nhận mình biết. Vì vậy, hạnh khiêm tốn giúp cho hạnh tàm quý dễ dàng thực hiện tốt hơn, làm cho chúng ta dễ thương hơn, dễ được xã hội chấp nhận và có thể tiến tu dài lâu.

     Trong 11 thiện tâm sở, khởi đầu là Tín, tức là niềm tin rất quan trọng; nhưng chỉ có niềm tin thì cũng nguy hiểm, mà không có niềm tin thì cũng không tu được. Riêng tôi, nhờ niềm tin mãnh liệt với Bồ tát Quan Âm, đến đâu, làm gì, tôi cũng cảm giác Quan Âm hướng tôi đi trên lộ trình đúng đắn, giúp tôi làm được.

     Chúng ta cũng thấy từ niềm tin mà hàng vạn Phật tử đã đến chiêm bái tượng Phật ngọc. Chúng ta chưa vượt ngũ ấm thân, nên không thể thấy siêu hình, không thấy các Bồ tát vô hình, không thấy bề trái của cuộc đời, không thấy bề trong của sự vật; nhưng vị Lạt Ma Tây Tạng sống với bản tâm thanh tịnh, nên nhìn khối đá mà thấy Phật hiện hữu bên trong. Người bình thường thấy đá là đá, thấy gỗ là gỗ. Còn người phi thường thấy trong đá có Phật, trong gỗ có Phật; nhưng không phải đá nào, gỗ nào cũng tạc tượng Phật được, có đá tạc tượng Phật mà không ai thờ cúng. Trong khối đá, hay trong khối gỗ có Phật, gọi là khối đá thiêng, cây gỗ thiêng để tạc tượng. Chúng ta nhớ khi Phật giáo truyền vào Việt Nam, có năm ngôi chùa là Pháp Vân, Pháp Vũ, v.v...…Nhà sư Khuông Đà La đã chọn được gỗ thiêng để chạm các pho tượng Phật ở những chùa này; không phải cả rừng đều là gỗ thiêng. Dùng gỗ thiêng chạm tượng Phật an trí chỗ nào thì chỗ đó được bình an, người ta cầu nguyện được như ý. Xưa kia, các vị Thiền sư ngộ đạo thường tìm vùng đất thiêng để cất chùa, có thể tấn xuất nhân tài, gọi là địa linh nhân kiệt. Tuy thực tế thấy có nơi tầm thường, nhưng dựng chùa ở đó thì dân chúng được bình an và nhân tài xuất thân từ đây. Nhưng ngày nay, cũng đừng quá tin vào điều này, sẽ bị người xấu lợi dụng, chắc chắn họ không có mắt thiêng mà có thể chỉ được đâu là vùng đất thiêng.

     Khối ngọc do vị Lạt Ma phát hiện trong Thiền định có thể tạc tượng Phật được, thì trước tiên vị Lạt Ma phải đưa tâm mình vô khối ngọc làm cho khối đá này tỏa sáng và cũng nhờ vào lực gia trì của Lạt Ma làm cho người thợ tạc nên pho tượng Phật có sức sống. Không phải thợ nào cũng tạc được và không phải lúc nào cũng tạc tượng Phật được.

     Cũng vậy, tượng Phật chùa Ấn Quang hình thành do Hòa thượng Trí Hữutụng kinh Pháp Hoa cầu nguyện và tạo lực gia trì cho nghệ nhân tạc tượng. Đồng thời nghệ nhân vừa tạc tượng vừa lạy Phật, bộ kinh Pháp Hoa có hơn 60.000 chữ thì vị này lạy hơn 60.000 lạy là tạc xong pho tượng Phật. Còn Hòa thượng Trí Hữu thì đốt liều hương trên đầu để cúng dường Phật và khi trên đầu không còn chỗ để đốt hương, Ngài đốt hương trên cánh tay, thậm chí đốt rụng cả ngón tay mà không cảm thấy nóng. Sợ nóng và thấy nóng thì không thể đốt được vì niềm tin chưa có. Niềm tin mãnh liệt như Hòa thượng Quảng Đức thì đốt cháy cả toàn thân mà vẫn ngồi an nhiên tự tại trong lửa.

     11 thiện tâm sở gồm có Tín, Tàm, Quý, Vô tham, Vô sân, Vô si, Tinh tấn, Khinh an, Bất phóng dật, Hành xả, Bất hại, trong đó niềm tin khởi đầu. Và niềm tin trong sáng, cao quý được đặt vào tượng Phật. Ngọc đã quý và đưa thêm lòng thành của Lạt Ma Tây Tạng và nhà sư Thái Lan vào khối ngọc tạo thành sức thu hút hàng vạn người đến đảnh lễ tượng Phật này. Kinh Hoa Nghiêm nói niềm tin là mẹ sinh ra các công đức lành. Và niềm tin dẫn đi xa hơn theo chiều hướng của 11 thiện tâm sở, thì Tín phải kèm theo tâm tàm quý, tức biết xấu hổ với người và với lương tâm mình, mới thấy được con người thật của mình. Qua sự đánh giá của xã hội mà chúng ta nhận ra được con người thật của mình, xã hội đánh giá mình như thế nào thì mình là như vậy. Xã hội đánh giá mình không giỏi, thì phải phấn đấu tu học để trở thành giỏi. Còn người đánh giá mình tốt mà liền chấp nhận, thỏa mãn là đã ngã mạn; nói cách khác, là phủ lớp sơn giả lên mình rồi.

     Và có tâm tàm quý sẽ đi đến tâm vô tham, vô sân; vì biết rõ mình thì không còn ham muốn. Đối với người thế gian, ham muốn chính yếu là ham tình ái, ham danh lợi và ham ăn ngủ.
Khi đã thành tựu tâm vô tham, vô si thì càng được quý trọng bao nhiêu, chúng ta càng tinh tấn bấy nhiêu. Tinh tấn làm nhiều việc phước đức mà không biết chán nản, không mệt mỏi; cho nên tâm ta luôn được khinh an, tức nhẹ nhàng, thoải mái, thanh thản, không bị áp lực công việc. Kế đến, trang nghiêm tâm bất hại là nhớ đừng làm mất lòng người và cuối cùng là tâm hành xả, việc gì qua rồi thì mình cho nó nhẹ nhàng trôi qua.

     Nuôi dưỡng được tâm tàm quý và cả 11 thiện tâm sở như vậy, chắc chắn chúng ta thăng hoa trên con đường tu tạo phước đức trí tuệ của chính mình và mang lại an lạc hạnh phúc cho gia đình, cho xã hội.

(Bài giảng khóa tu Một ngày an lạc lần thứ 61 tại chùa Phổ Quang ngày 5-4 -2009)
Nguồn: http://www.chuahuenghiem.net/thu-vien/sach/khai-thi-2009/tam-quy/#title